Thơ gởi người dân oan trong nước

Thơ gởi người dân oan trong nước

 

Trần Thanh

 

 

Năm xưa dâng đảo Hoàng Sa

Năm nay dâng nốt đúng là thắng to!

Vì “độc lập” vì “tự do”

Dâng cho bằng hết dâng cho giặc Tàu!

Vùng lên chiến sĩ, đồng bào!

Giết quân giặc cướp, ta đào mồ chôn!

 

Đây là những câu ca dao thời đại tố cáo tội ác tày trời của bọn việt gian cộng sản.  Cả đất nước Việt Nam mà bọn chúng còn dám cả gan đem dâng hết cho ngoại bang và giặc Tàu thì xá gì những nhà và đất của những người dân oan!  Đứng trước tình trạng này, chúng ta thử tự đặt câu hỏi và tự tìm ra câu trả lời:

 

Câu hỏi một: -Những người dân oan đang đi khiếu kiện khắp nơi trên đất nước, liệu có hy vọng gì đòi lại được nhà và đất không?

 

Xin thưa: – KHÔNG BAO GIỜ ĐÒI ĐƯỢC!!!

 

Vì sao???

 

Bởi vì bọn chúng CỐ Ý ĂN CƯỚP chớ không phải vô ý làm sai pháp luật.  Nhà và đất của quý vị đã bị bọn chúng đem bán cho việt kiều hoặc bọn tư bản nước ngoài.  Có những nhà đất đã bị sang tay qua năm bảy đời chủ, không thể nào truy nguyên gốc mà đòi lại được nữa!  Tiền ăn cướp được, bọn chúng đã đem gởi tại các ngân hàng ở nước ngoài, nếu sau này chế độ cộng sản có bị sụp đổ thì bọn chúng bỏ chạy ra nước ngoài, tha hồ mà hưởng thụ số tiền ăn cướp, đến cả trăm năm sau cũng chưa hết!

 

Câu hỏi hai: – Nếu biết chắc chắn là không bao giờ đòi lại được thì đi khiếu kiện làm gì?  Tự tử chết cho rồi?

 

Xin thưa: – Nói như vậy mà không phải như vậy.  Bất cứ sự khó khăn nào cũng có cách giải quyết! 

 

Câu hỏi ba: – Giải quyết như thế nào, xin cho biết ngay, chúng tôi sẽ thực hiện ngay, cho dù có phải đi kiện lên tới ông trời, chúng tôi sẵn sàng đi!

 

Xin thưa: – Muốn đòi lại nhà và đất thì toàn dân phải đồng lòng nổi dậy LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN!  Đây là cách DUY NHẤT để giải quyết vấn đề người dân bị cướp nhà, cướp đất.  Phải xóa bỏ hẳn cái chế độ cộng sản chớ không phải là thay thế cái chính quyền ăn cướp này bằng cái chính quyền “canh tân” tham nhũng, ăn cướp khác!

 

Câu hỏi bốn: – Chúng tôi đồng ý!  Chết cũng được chớ chúng tôi uất ức quá rồi!  Nhưng làm thế nào để lật đổ bọn việt gian cộng sản?  Phải có người khởi xướng chứ?

 

Xin thưa: – Quý vị dân oan và toàn thể đồng bào hãy chờ hiệu lệnh ngày TỔNG NỔI DẬY để làm CÁCH MẠNG.  Sẽ có những cá nhân và các tổ chức, đảng phái đứng ra khởi xướng cuộc cách mạng.

 

Câu hỏi năm: – Chúng tôi sẵn sàng chờ đợi và hưởng ứng ngày TỔNG NỔI DẬY.  Trong thời gian chờ đợi, chúng tôi phải làm gì?

 

Xin thưa: – Quý vị cần ghi nhớ HAI điều rất quan trọng sau đây:

 

1.  Năn nỉ, van xin không bao giờ được, vừa hèn vừa nhục.  Bây giờ thời cơ chưa tới thì quý vị cứ biểu tình và kêu thẳng tên những thằng đầu gấu như Mạnh, Triết, Dũng, An, Lê Hồng Anh ra mà chửi!  Còn sợ gì nữa mà không dám chửi?  Mình lịch sự nó cũng giết mình mà không lịch sự nó cũng giết mình!  Đừng có chửi mấy thằng tép riu như phó/tổng thanh tra, chủ tịch huyện, chủ tịch xã.  Mấy thằng đó chỉ là những tên tay sai.  Đánh con rắn, PHẢI ĐẬP VÀO CÁI ĐẦU! (đập vào bộ chính trị của việt cộng)

 

Vừa rồi bọn chúng đã giết chết hai người là anh rể và chồng của chị Mai Thị Nở, dân oan ở huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.  Đây là đòn bọn chúng muốn dằn mặt những người dân oan khiếu kiện.

 

Đứng trước sự việc này, quý vị hãy ghi tâm khắc cốt sự quyết tâm sau đây: – Tụi bay mới giết có hai người chớ nếu tụi bay có giết chết HAI TRIỆU NGƯỜI đi chăng nữa, những người dân oan nhất quyết sẽ không sợ, sẽ không bao giờ lùi bước!  Toàn dân sẽ vùng lên làm cách mạng, lật đổ chúng bay!  Sát nhân thì phải giả tử! (giết người thì phải đền mạng)  Nợ máu phải được trả bằng máu!  Bọn chúng bay, bọn cướp việt gian cộng sản phải đền nợ máu!  Tàn ác như những cái chế độ độc tài của tên bạo chúa Xô Xét Ku, tổng bí thư của đảng cộng sản Ru Ma Ni, hoặc tên tổng bí thư đảng cộng sản Đông Đức rồi cũng có ngày chế độ của bọn chúng cũng bị người dân vùng lên lật đổ.  Hai tên độc tài đó đã bị người dân đem treo cổ, chết thê thảm như những con chó ghẻ!!!

 

 

Đừng sợ hãi.  Hãy quyết tâm vùng lên đập nát đầu con rắn!!!

 

2.  Phải làm cách mạng lật đổ chế độ cộng sản mới đòi lại được nhà đất.  Những tên ác ôn có nợ máu với đồng bào phải bị đền tội.  Bọn chúng phải bị đưa ra tòa xét xử, hình phạt nhẹ nhất là tử hình!

 

Chỉ có những người dân trong nước mới lật đổ được bọn cộng sản.  Cộng đồng người Việt ở hải ngoại chỉ đóng vai trò yểm trợ.  Có thể đưa ra hình ảnh ví von như thế này: tám mươi triệu dân trong nước là những người đang BỊ CHẾT ĐÓI VÀ CHẾT KHÁT.  Chúng tôi ở hải ngoại sẵn sàng cung cấp cho quý vị nước cam ướp lạnh và những tô phở nóng nhưng chính quý vị phải tự ăn và uống để giải khát và khỏi bị chết đói chớ CHÚNG TÔI KHÔNG THỂ NÀO ĂN GIÙM VÀ UỐNG GIÙM QUÝ VỊ!

 

Phải tự cứu mình trước khi trời cứu.  Cộng đồng người Việt ở hải ngoại sẽ vận động nước Mỹ và cả thế giới xúm lại giúp giải thoát 80 triệu người nô lệ trong nước.  Nhưng quan trọng nhất là toàn dân trong nước phải đồng lòng cùng nổi dậy!

 

 

NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH DÂN OAN KHIẾU KIỆN TẠI HÀ NỘI TỪ THÁNG 7 – 2008 ĐẾN NAY:

 

1.  Trước tiên ta thấy có thêm phái đoàn dân oan từ tỉnh Tiền Giang ra khiếu kiện.  Tuy phái đoàn này chỉ có khoảng 20 người nhưng thái độ của họ rất mạnh bạo và cương quyết.  Khi họ bị công an xô đẩy, bắt lên xe để đưa họ đến số 110 Cầu Giấy thì họ đã chửi thẳng vào bọn công an là:

 

– Tụi bay là đồ ăn cướp!

– Có phải ông Lê Hồng Anh (bộ trưởng công an) kêu tụi bay tới đây không?

– Tụi mày bắn tụi tao đi.  Bắn đi!  Đù má tụi bay! (dám thách đố bọn công an bắn họ)

 

 

Phần góp ý:

 

Một vài người trong đoàn Tiền Giang đã cầm hình “bác” Hồ và mặc những chiếc áo thun trắng có in hình “bác” Hồ! (xem phóng sự VietNam Exodus đăng ngày 14 tháng 7 năm 2008))

 

Trước đây có một số người đi biểu tình đã cầm cờ đỏ sao vàng, mặc áo có in cờ đỏ sao vàng, cầm theo hình “bác” Hồ.  Có một số bà má chống Mỹ cứu nước đã đeo huy chương, huân chương đỏ ngực.  Một số người khác cầm những tấm bảng ghi rõ họ là những người thuộc gia đình liệt sĩ, có công với cách mạng!  Họ hy vọng rằng đó sẽ là những lá bùa hộ mạng, che thân và bọn công an sẽ không dám đối xử nặng tay với họ!  Nhưng họ đã lầm!  Bọn công an vẫn đánh những người đó bể đầu, sứt trán, đánh hộc máu mồm và tóm cổ, quăng mấy bà má “chống Mỹ” lên xe như quăng mấy con heo!

 

Đã đến giai đoạn chó ăn thịt chó rồi.  Nghĩa là ngay cả trong nội bộ của bọn cộng sản cũng ăn cướp lẫn nhau và chém giết lẫn nhau để tranh giành tiền bạc, địa vị!  Những vị dân oan thuộc diện “gia đình cách mạng” nên thức tỉnh.  Cái chế độ cộng sản là cái chế độ ăn cướp của những thằng ĐƯƠNG CHỨC ĐƯƠNG QUYỀN.  Quý vị “có công với cách mạng” nhưng thuộc loại tép riu thì cũng bị bọn chúng đối xử tàn tệ như những gia đình “ngụy Việt Nam Cộng Hòa”!

 

Như vậy cách tốt nhất là công khai phản đối chế độ và chọn cho mình một lập trường dứt khoát về chính trị.  Đó là ủng hộ lá cờ vàng ba sọc đỏ, tượng trưng cho chính nghĩa của dân tộc, khi đi biểu tình, quý vị nên đem theo và phất cao lá cờ này!  Nếu lỡ có bị việt cộng bắn chết thì cũng là chết vinh quang cho chính nghĩa, chết một cách xứng đáng!  Có như vậy mới thức tỉnh được 80 triệu dân trong nước và khơi dậy tinh thần đấu tranh của đồng bào! 

 

Còn tấm hình của thằng Hồ tặc thì quý vị còn yêu quý gì nó mà đeo trước ngực?  Chính vì nó mà quý vị mới bị mất nhà, mất đất và một số người bị mất mạng nữa!  Chính nó đã thiết kế nên cái bộ máy giết người đã hơn 60 năm nay mà hiện nay bộ máy ấy vẫn đang hoạt động rất hữu hiệu.  Phải đập tan cái bộ máy ấy và xây dựng nên một cái chế độ khác hoàn toàn mới, trên cơ sở tự do, dân chủ!

 

2.  Thái độ đấu tranh của các dân oan ngày càng táo bạo và quyết liệt hơn trước.  Nhiều người đã dám kêu thẳng tên những thằng lãnh đạo cao nhất nước như Mạnh, Triết, Dũng, An ra mà chửi và họ còn nói thẳng:

– Tụi bay làm không được thì từ chức đi để người dân lên thay thế!

 

Có người dân oan đã chửi:

– Đả đảo chính quyền XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ăn cướp đất của dân!

 

Bà này không nói rõ là chính quyền cấp xã, cấp huyện hay cấp tỉnh mà lại nói “chính quyền xã hội chủ nghĩa”  Đây là sự tổng quát hóa, tức là toàn bộ chính quyền từ trung ương xuống dưới địa phương đều là ăn cướp!  Đây là câu chửi rất táo bạo vì người này đã dám dùng nhóm chữ “chính quyền xã hội chủ nghĩa” tức là cái chính quyền do “bác” Hồ thành lập ra cách đây 60 năm!  Thông thường những người dân oan chỉ dám nêu tên những thằng việt gian cộng sản ăn cướp, lên án NHỮNG CÁ NHÂN, chớ ít có ai dám LÊN ÁN CẢ MỘT CÁI CHẾ ĐỘ!

 

Những người đang đứng ngay trước mũi súng của kẻ thù, có thể bị bọn chúng bắn chết bất cứ lúc nào, mà họ còn dám táo bạo, hiên ngang đến như vậy, trong khi đó thì những nhà “đấu tranh” ở hải ngoại thì lại sợ run, không dám nói động đến bọn việt cộng!  Hèn quá, nhục quá!  Hỡi những tên bưng bô cho việt cộng ở hải ngoại đang khoác áo những “nhà dân chủ”, bọn chúng bay nên về nước mà xem dân oan họ đấu tranh và nên đội quần họ mà học cách sống làm người!

 

3.  Chó ăn thịt chó: dân oan tỉnh Phước Long tố cáo xã đội trưởng Trần Văn Lực ăn cướp đất của gia đình liệt sĩ, trước đây là cán bộ biệt động thành! (phóng sự VietNam Exodus ngày 25 tháng 7 năm 2008))  Những tên việt cộng mang danh là “biệt động thành” chính là những tên trước năm 1975 thường ném lựu đạn vào các cuộc mít tinh do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tổ chức hoặc đặt mìn trong các rạp xi nê, khách sạn, chợ búa ..v..v.. Nói thẳng ra, bọn chúng chính là những tên khủng bố có “công” với cách mạng.  Giờ đây, trời trả báo, chính những tên này cũng bị bọn cướp ăn cướp đất!  Múi chanh đã bị vắt hết nước rồi thì vất vào sọt rác!

 

Chó đã ăn cả thịt chó thì thân phận của những người dân, con “ghẻ” của chế độ (dân “ngụy” Việt Nam Cộng Hòa), bọn chúng có coi ra gì?  Không đồng lòng đoàn kết đứng lên lật đổ bọn cộng sản thì còn chờ đến bao giờ?

 

4.  Sự đàn áp của bọn công an vẫn thô bạo như trước, không hề có một sự cải thiện gì về tôn trọng nhân quyền: bọn chúng đã khiêng chị dân oan tỉnh Hải Dương Nguyễn Thị Khả như khiêng một con heo!  Bốn tên công an lực lưỡng đã bẻ tay một người đàn bà yếu đuối, rồi bốn tên, mỗi tên cầm một “chân” của “con heo” Nguyễn Thị Khả khiêng đi công khai ngoài đường như người ta khiêng heo mang ra chợ bán! Tên đội trưởng công an đứng nhe răng cười khoái chí!

 

Không phải chỉ có một mình chị Khả là bị đối xử như vậy.  Cách đây khoảng hai năm, hòa thượng Thích Quảng Độ cũng bị bọn chúng đối xử thô bạo đến nỗi ngài đã nói với các phóng viên nước ngoài rằng:

 

– Họ đã khiêng tôi đi như khiêng một con heo!

 

Sự việc xảy ra ngay tại nhà ga xe lửa ở Sài Gòn.  Lúc ấy ngài Quảng Độ chuẩn bị đi ra Bình Định để thăm vị Đại lão hòa thượng Thích Huyền Quang. Bọn công an đã xúm lại ngăn cản không cho ngài đi.  Hai bên giằng co, bọn chúng xé rách luôn cả áo cà sa của ngài và khiêng ngài đi như khiêng một con heo, tống lên xe, chở về lại Thanh Minh Thiền Viện!

 

Một ông lão TRÊN TÁM MƯƠI TUỔI và đồng thời là một vị cao tăng đứng đầu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mà còn bị việt cộng đối xử thô bạo như vậy thì xá gì những người dân đen?  Người dân trong nước nên ý thức được điều này và phải quyết tâm nổi dậy chấm dứt cái chế độ tàn ác nhất trên thế giới này càng sớm càng tốt!

 

 

PHẦN ĐỀ NGHỊ QUAN TRỌNG GIÚP DÂN OAN:

 

Trong phần trả lời phỏng vấn với phóng viên của VietNam Exodus ngày 2 tháng 8 năm 2008, dân oan tỉnh Tiền Giang Trương Thị Quang đã than phiền là không hề thấy bóng dáng một nhà dân chủ nào đến giúp.  Bà Quang đã tỏ thái độ bi quan đòi tự tử!  Chúng tôi xin đề nghị với quý vị dân oan một việc:

 

– Quý vị hãy đi tìm ông Trần Khuê, tổng thư ký của đảng Dân Chủ 21, nhờ ông ta giúp đỡ.  Lý do vì trong bản Cương Lĩnh của đảng Dân Chủ 21, nơi mục “công tác xã hội” có ghi rất rõ ràng là họ sẽ:

 

1. Giúp người dân oan đấu tranh đòi lại đất, đòi lại nhà! (giúp được tới đâu rồi, xin cho biết!)

 

2.  Triệt để chống tham nhũng (chống được tới đâu rồi, sẵn tiện các vị dân oan nên hỏi luôn cho biết!)

 

3.  Ủng hộ và bênh vực công nhân thành lập nghiệp đoàn độc lập ( đã thành lập được cái nào chưa? Hiện nay, 15 ngàn công nhân đang đình công ở tỉnh Bình Dương, ông Trần Khuê của đảng Dân Chủ 21 đã có lên tiếng ủng hộ và bênh vực cho họ chưa?)

 

Ông Trần Khuê đang sống tại Hà Nội.  Sau khi ông Hoàng Minh Chính chết hồi tháng 2 năm 2008 thì ông Trần Khuê lên thay thế. Quý vị dân oan nên đi tìm ông ta nhờ giúp đỡ.  Họ đã ghi rất rõ trên bản Cương Lĩnh, trên giấy trắng mực đen thì họ phải thực hiện!  Nếu sau khi gặp ông Trần Khuê nhờ giúp đỡ mà ông ta “quên giúp” thì quý vị hãy liên lạc với hai tờ báo điện tử TinParis ở Pháp và Hồn Việt UK ở Anh Quốc, chúng tôi sẽ viết một lá thư ngỏ gởi ông Trần Khuê, nhắc nhở ông ta thực hiện những lời đã hứa với người dân!  Địa chỉ của chúng tôi là:

http://hon-viet.co.uk

http://www.tinparis.net

 

 

LỜI KÊU GỌI:

 

1.  Trong các lá đơn của dân oan mà chúng tôi đọc được ở trên internet, tất cả đều mở đầu bằng hai câu khẩu hiệu: – Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, độc lập, tự do, hạnh phúc.

 

Quý vị nên vứt hai câu khẩu hiệu này vào sọt rác, đừng có ghi trên đơn nữa, mỉa mai lắm, mình tự chửi cha mình!  Bọn cộng sản nó bắt toàn dân phải ăn cứt và làm nô lệ cho chúng hơn 60 năm nay rồi!  Hơn 60 năm nay những người dân trong nước chưa bao giờ được hưởng MỘT NGÀY gọi là “độc lập, tự do, hạnh phúc”!!!  Thay vào đó, quý vị nên ghi là:

 

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Đập lột dân đen, bóc lột dân nghèo, cướp đất của dân oan!!!

 

Hai câu khẩu hiệu này mới nêu lên đúng cái bản chất cực kỳ dã man, chó đẻ của cái chế độ của bọn việt gian cộng sản!!!

 

2.  Tất cả quý vị hãy đoàn kết lại và chuẩn bị tinh thần để đấu tranh vùng lên lật đổ bạo quyền.  Khi có người khởi xướng ngày tổng khởi nghĩa thì hãy kiên quyết hưởng ứng. 

 

Có người cho rằng phe cộng sản thân Mỹ đang chơi thân với Mỹ, đó là điều đáng mừng, mai mốt tiền đô la của Mỹ sẽ đổ vào nước ào ạt, lượm không  kịp!  Thật ra, tư bản nước ngoài càng đầu tư thì tai họa càng đến với người dân!  Bọn cướp sẽ lấy cớ “quy hoạch đất” để xây dựng nhà máy, xây dựng khu du lịch hoặc sân golf, rồi tiếp tục cướp đất của dân đen!  Sang năm 2009, bọn chúng sẽ ăn cướp công khai chớ không cần núp dưới danh nghĩa “quy hoạch đất” rồi “bồi thường” gì nữa.  Bọn chúng sẽ dí súng vào đầu người dân và nói như thế này:

 

– Tụi tao là ăn cướp.  Tụi tao có súng, có còng số tám, có nhà tù.  Tụi mày dân đen phải cút đi, để lại nhà và đất cho tụi tao!  Nếu tụi bay có ngon thì hãy lật đổ tụi tao.  Còn nếu không lật đổ được thì phải chịu làm nô lệ suốt đời cho đến khi trái đất này tàn lụi.  Tụi mày sinh ra đời là để chết cho tụi tao được sống sung sướng!!!

 

 

LỜI KẾT:

 

Bắc thang lên hỏi ông trời

Đất nhà bị mất có đòi được không?

Trời rằng: đòi được sao không!

Đứng lên lật đổ bọn việt gian cộng Hồ!

 

Một khi bọn việt gian cộng sản bị tiêu diệt thì những người dân oan bị mất nhà đất mới có hy vọng lấy lại những gì đã bị cướp.  Tất cả những tên việt kiều lưu manh về nước mua nhà đất ăn cướp của dân sẽ bị trưng thu tài sản.  Bọn tư bản ngoại quốc mua nhà đất ở trong nước cũng sẽ bị quốc hữu hóa tài sản.  Bất cứ cuộc cách mạng nào sau khi hoàn thành cũng phải có biện pháp đem lại sự công bằng cho người dân.  Những tên việt kiều lưu manh nên liệu hồn, chẳng hạn như con mụ Tư Hường và Hai Én, việt kiều Canada về Việt Nam đầu tư xây dựng khu du lịch ở Nha Trang đã ăn cướp 178 hecta đất của dân!

 

Chỉ có chúng ta mới cứu được chúng ta.  Đừng có hy vọng gì vào những tên việt cộng thuộc phe “thân Mỹ”.  Mục đích chính của bọn chúng vẫn chỉ là ăn cướp và làm giàu, và rồi những người dân đen sẽ mãi mãi bị hy sinh!  Thân Mỹ, thân Nga, thân Tàu hay thân bất cứ thằng tư bản nào cũng không thể trả lại cho quý vị những nhà đất đã bị cướp.  Những cô gái hoa hậu thế giới đi ưỡn ẹo trên ti vi không thể làm cho bao tử của người dân nghèo được no thêm.  (Việt cộng tổ chức thi hoa hậu hoàn vũ tại Nha Trang)  Trái lại, càng nhìn những cô gái đẹp hoa hậu Việt Nam với những bộ vú căng tròn thì người dân nghèo Việt Nam càng thêm tủi thân và cảm thấy thêm đói khát, run tay, run chân!  Tại sao bọn con ông cháu cha đang sống sung sướng trên thiên đàng còn tám mươi triệu dân đang  phải rên xiết dưới địa ngục trần gian có thật tại Việt Nam?  Mới đây bọn việt gian cộng sản còn ru ngủ dân đen bằng cách mời đội bóng Ba Tây sang đá giao hữu tại Việt Nam để người dân vơi bớt nỗi buồn xăng lên giá và nạn lạm phát đang gia tăng vùn vụt!

 

Xin đừng quên mối thù bất cộng đái thiên và phải LÀM CÁCH MẠNG, phù hợp với ý trời! (Trời rằng đòi được sao không?  Đứng lên lật đổ bọn việt gian cộng Hồ!)

 

 

Trần Thanh

Ngày 2 tháng 8 năm 2008

 

HẾT

 

http://www.hon-viet.co.uk/TranThanh_ThuGoiNguoiDanOanTrongNuoc.htm

Sự tích: Con yêu râu xanh ở Việt Nam – Hồ Chí Minh 18/18

Sự tích: Con yêu râu xanh ở Việt Nam

* * * * *

Việt Thường

Bài 18 và hết

Ăn uống của Việt Nam Cộng Hòa cũng khác hẳn. Bên Bắc cầu Hiền-lương thì hàng quán xa thưa thớt. Nếu có vào cũng chỉ trà xanh, vài quả chuối còm và khá hơn thì vài hột vịt luộc. Qua bờ Nam Bến-hải đã như trời với vực. Quà ăn, nước uống phong phú, sạch đẹp mời chào tận miệng. Gần một phần tư thế kỷ dưới sự thống trị của tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh, người dân miền Bắc XHCN muốn ăn phải đi tìm như chó tìm xương, lại còn phải vẫy đuôi sợ bị đá vỡ mỏ. Nay vào đến đất của Việt Nam Cộng Hòa, được mời chào cứ như “thị vệ dâng cơm cho vua”. Họ chợt tỉnh cơn u mê gần phần tư thế kỷ để mở đầu cho việc đi tìm lại chính mình.

Phép lạ của Sài-gòn Việt Nam Cộng Hòa biến đổi những người miền Bắc XHCN thành:

1) Những người có chút lý tưởng thì bừng tỉnh lo cho số phận của dân tộc Việt Nam rồi sẽ ra sao trên mép vực XHCN. Đó là những người như Nguyễn Hộ, Bùi minh Quốc, Dương thu Hương, Nguyễn xuân Tụ (tức Hà sỹ Phu) v.v… tuy còn ngộ độc của quá khứ ở các mức độ khác nhau!

2) Những lũ cơ hội đi vô thực dụng một cách tàn bạo. Chúng nhào vào Nam hôi của, ngay chính với cả bà con, họ hàng, thân tộc. Lừa đảo, cướp đoạt trắng trợn.

3) Những tên lớn bé của bậc thang quan lại đỏ lộ nguyên hình yêu ma đội lốt người. Vài thí dụ cụ thể về đàn áp:

– Quân, dân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hòa bị lừa đi tù, bị ghép tội “phản động”;

– Người có của bị ghép tội tư sản, cũng tù đày, tịch thu tài sản; cưỡng bức đi lưu đày vùng hoang hóa;

– Trẻ em mới học cấp 1 đã bị “cải tạo lao động”, phải đi làm vệ sinh đường phố, làm cả ở những nơi nguy hiểm. Nhiều em chết vì mìn, vì lựu đạn rơi rớt;

– Lệnh ngăn sông, cấm chợ để trả thù “nhân dân miền Nam” đã không vùng lên khi cộng sản xâm lăng, khiến chết vì đói, chết vì mất hy vọng, vì uất ức biết là bao nhiêu;

– Nhà tù mọc như nấm, đến mức trường học, bệnh viện, khách sạn v.v… cũng bị dùng làm nhà tù. Thí dụ như khách sạn Đại-lợi ở chợ Ông Tạ (Sài-gòn)

– Trong cái không khí đàn áp, trả thù của đạo quân xâm lược mà cũng chỉ có quân xâm lược mới làm như vậy, thì các đầu nậu chóp bu tập đoàn cộng sản Việt gian Hồ chí Minh sinh hoạt ra sao?

– Văn phòng trung ương mafia đỏ lẹ nhất, đã cử người đi khắp miền Nam, đặc biệt là Sài-gòn và Đà-lạt, để chiếm các vi-la to đẹp nhất, dành cho trung ương.

– Văn phòng thủ tướng ngụy quyền Hà-nội cũng cho người nhào dzô để kiếm nhà, kiếm xe cho cái gọi là “nhà khách chính phủ”.

– Cho đến cả “cuốc hội” ngụy quyền và cái gọi là “mặt trận tổ cuốc” cũng vào xí phần. Khu vi-la ở đường Hiền Vương (sau đổi là Võ thị Sáu); một số vi-la lớn ở Nguyễn Minh Chiếu và cả tòa nhà của dược sỹ Nguyễn cao Thăng bị biến thành tài sản của “mặt trận tổ cuốc”.

– Các bộ, các ngành cũng đua theo, nhiều khi chiếm rồi bỏ đấy như dãy nhà ở Duy Tân – Võ văn Tần, do tổng cục lâm nghiệp chiếm chỉ có hai, ba gia đình ở để giữ phần. Các phòng gạch men đẹp như vậy bị dùng làm chỗ nuôi heo và gà!

– Mấy tên ở bưng về và tụi nắm quyền ở Sài-gòn như Trần nam Trung, Võ văn Kiệt chiếm trọn vẹn cả đường Tú Xương! (Thật tội nghiệp cho ông Tú).

– Lép vế như hai đảng Dân chủ và Xã hội cũng cướp được căn vi-la đồ sộ ở Duy Tân (sau đổi là Phạm ngọc Thạch), gần nhà “đồng chí” thẩm phán tối cao pháp viện của miền Nam là Trần thúc Linh.

– Vợ và con Lê Duẩn “được” làm ở báo “Sài-gòn giải phóng” để có quyền chiếm dụng nhà cửa, dư thừa đến mức đóng cửa bỏ đó như tòa nhà đồ sộ ở cuối đường Võ văn Tần.

– Anh em nhà Lê đức Thọ và con cháu thì khỏi nói. Mai chí Thọ 4 lần đổi nhà, mỗi lần đi sang nhà mới thì mang hết đồ đạc theo, chỉ trả lại xác nhà. Cuối cùng cướp luôn hai vi-la: an cư tại vi-la ở đường Phạm ngọc Thảo, còn vi-la ở đường Duy Tân sau này cho hãng Shell thuê. Thậm chí lũ gia nô của Lê đức Thọ cũng trở thành sáng giá. Thí dụ: Văn Lượng, phóng viên ảnh của Việt Nam thông tấn xã, nhờ theo Lê đức Thọ qua chụp ảnh ở hội nghị Paris về Việt Nam, được đặt lên ghế giám đốc công ty nhiếp ảnh của Sài-gòn. Nguyễn văn Bẩy, lái xe cho Lê đức Thọ ở Paris, trở thành phó giám đốc sở ngoại vụ của Sài-gòn. Và, tất nhiên có chức thì cũng có quyền cướp tài sản của nhân dân miền Nam.

– Ngay Trường Chinh, người “đồng chí” của tiến sỹ Nguyễn thanh Giang, đã khiến Nguyễn thanh Giang “bật lò xo” khi thấy Trần Quỳnh động đến Trường Chinh, cũng cho phép bản thân và con cháu nội ngoại, xa gần quyền ăn cướp. Đến mức, một tên “người dưng nước lã” có công tìm được mộ một người bà con của Trường Chinh bị quân lực Việt Nam Cộng Hòa trừng trị về tôi xâm lược, cũng được Trường Chinh đích thân ra lệnh cho tụi đô hộ Sài-gòn cấp cho hắn một căn nhà ở ngay ngã tư Lê Lợi – Pasteur, mà chỉ cần cho mướn cái quầy hàng không thôi đã cho hắn cuộc sống vật chất trên mức phong lưu.

– Bọn bồi bút như Bảo định Giang, Nguyễn quang Sáng, Đinh Phong, Xuân Hồng v.v… một bước lên vi-la, xe hơi. Trần minh Tước (tức Xích Điểu), nguyên chủ tịch hội nhà báo của ngụy quyền Hà-nội chiếm cả căn lầu lẫn cửa hàng của căn phố ở đường Tự Do (sau đổi là Đồng Khởi), trước khi kiếm được cô vợ trẻ bằng chưa đến 1/3 tuổi của hắn thì tạm thời cặp bồ với Kiều mộng Thu.

– Diệp minh Châu chiếm căn vi-la số 222 đường Pasteur với đầy đủ đồ đạc, xe hơi (nghe đâu đó là tư gia của ông Nguyễn Đệ, đổng lý văn phòng của quốc trưởng Bảo Đại).

– Ngay những nhân vật “nhếch nhác” ở Hà-nội trước 4-1975 như luật sư Nguyễn thành Vĩnh cũng lên hương. Cũng chiếm được nhà cửa xe cộ và béo trắng, bệ vệ hẳn ra. Còn Trần văn Giàu cũng chiếm được một cái vi-la đồ sộ, cuối năm 2001 mới đây bán được mấy ngàn lạng vàng, đã bỏ ra 1000 lạng làm giải thưởng lịch sử hằng năm cho các nhà “xuyên tạc lịch sử” trong thế hệ trẻ. Không con cái, Trần văn Giàu muốn đi với lịch sử mãi mãi. Hắn già nên nghĩ quẩn mà thôi, chắc chắn chỉ riêng tín đồ Hòa Hảo cũng sẽ mãi mãi nhớ tên Trần văn Giàu, Dương bạch Mai là những đứa đã hãm hại Đức Huỳnh Giáo Chủ và hàng chục ngàn tín đồ và chức sắc Hòa Hảo khác!

Cuộc chiến thắng của tập đoàn mafia đỏ Hồ chí Minh trong việc xâm lăng miền Nam Việt Nam, là một mất mát không gì bù đắp được cho không chỉ đối với nhân dân miền Nam mà là cho cả đất nước Việt Nam. Lịch sử bị kéo lùi lại còn tệ hơn thời thực dân Pháp cai trị. Các giá trị vật chất, tinh thần bị phá hoại nghiêm trọng, không biết phải bao thế hệ nữa mới hàn gắn lại được. Cái mất mát lớn nhất là sự kỳ thị Bắc – Nam; là truyền thống gia đình bị đổ vỡ vì cảnh “miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng”.

Bọn đệ tử của Hồ, những Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm văn Đồng thi hành tiếp lịch trình của Hồ đã vạch, bất chấp thực tế xã hội. Lê Duẩn cầm đầu một phái đoàn gồm gần trọn vẹn chính trị bộ của đại hội mafia đỏ lần 4, sang mẫu quốc đỏ Nga-xô ký hiệp ước “hữu nghị và hợp tác”, nội dung na ná như hiệp ước Patenôtre. Nghĩa là gần như công khai Việt Nam trở thành một bộ phận lãnh thổ Nga-xô. Chính Tố Hữu, trong hội nghị tuyên huấn đã phấn khởi tuyên bố: “Cơ duyên đã khiến Việt Nam trở thành cái đuôi của phe XHCN”!

Và, 1979 cái đuôi đó bắt đầu quậy sang Tây-Nam để thành chiến tranh bành trướng sang Căm-bốt và phía Bắc để đoạn tuyệt với “anh hai Trung cộng”, giữ phẩm tiết “tôi chung thờ một chúa”, đó là Nga-xô!

Có nhiều nguyên nhân thúc đẩy bọn đệ tử của Hồ phát động chiến tranh, nhưng cũng có một nguyên nhân quan trọng là bọn chúng vốn được hình thành để chém giết, phá hoại; có thói quen cai trị trong thời chiến và thói quen ăn cướp để tồn tại. Nói một cách khác, cái tổ chức Việt gian cộng sản của Hồ là tụi phi sản xuất tuyệt đối, là ký sinh trùng của xã hội. Cho nên chúng phát động chiến tranh để ăn cướp thêm của dân cả hai phía: Việt Nam và Căm-bốt; để duy trì sự độc tài; để đổ lỗi cho chiến tranh gây ra mọi khó khăn cho dân, y hệt Hồ một mặt xâm lăng miền Nam, một mặt đổ lỗi cho “Mỹ-Ngụy” là nguyên nhân gây ra mọi đói kém của miền Bắc!!! Và, quan trọng nhất là chúng thực hiện mục tiêu là nguyên nhân ra đời cái tổ chức Việt gian của chúng. Đó là “đảng cộng sản Đông-dương”, công cụ bành trướng của thực dân đỏ.

Ngay sau đại hội mafia đỏ lần 4 (1976), nhìn vào thành phần trung ương mafia đỏ, người ta đã thấy đây là nhân sự để làm chiến tranh.

Nhưng cái nguyên nhân chủ yếu gây chiến tranh sang Căm-bốt của tập đoàn cộng sản Việt gian là chúng muốn tiêu diệt sự vùng lên của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, tập đoàn Việt gian cộng sản, qua cuộc chiến Xuân-lộc, qua việc nhân dân miền Nam không nổi dậy như chúng mong muốn, mà chỉ có tụi nằm vùng của chúng cùng lũ lưu manh trộm cắp mà nhân dân miền Nam gọi là “cách mạng 30”. Như ở Sài-gòn, lũ gọi là đoàn luật sư do Đỗ hữu Cảnh cầm đầu; tụi sinh viên phản chiến do Dương văn Đầy, Kim Hạnh lèo lái; Trịnh công Sơn lên đài hát bài “nối vòng tay lớn”, có sự phụ họa của tụi Miên đức Thắng; rồi bọn công an nằm vùng Huỳnh bá Thành, Vũ ngọc Nhạ; bọn cơ hội như Nguyễn văn Bảy ở hội công thương; Kiều mộng Thu, Ngô công Đức, Lý quý Chung, thẩm phán Trần thúc Linh, mụ Ngô bá Thành, giáo sư Lê văn Thới, Vũ Hạnh, phó thủ tướng Nguyễn văn Hảo, “chuẩn tướng” Nguyễn hữu Hạnh v.v… là vẫy đuôi mừng quân xâm lược. Còn nhân dân miền Nam lại tiếp tục sinh hoạt bình thường. Mỹ thôi “can thiệp”, quốc tế “giả mù giả điếc”. Cho nên tập đoàn Việt gian cộng sản hết do dự, nhất là sau khi đã lừa được quân, dân, chính miền Nam vào các trại tù. Đấy là bước thứ nhất. Như vậy là chúng tạm thời vô hiệu hóa được lực lượng nguy hiểm trước mắt là quân đội, chính quyền và các đảng phái chính trị.

Bước thứ hai là tập đoàn Việt gian cộng sản vô hiệu hóa sức của nhân dân ở đô thị miền Nam bằng các chiến dịch đổi tiền; chiến dịch tiêu diệt tư hữu mang tên X1 và X2, và đuổi đi lưu đày ở rừng núi hoang hóa. Chúng hiểu rằng hoàn toàn khác với nông thôn, người dân đô thị hầu hết không ủng hộ chúng và thời gian họ sẽ là lực lượng chống đối mãnh liệt bộc lộ dưới nhiều phương diện, cả kinh tế, cả văn hóa, cả sinh hoạt xã hội.

Vì vậy chúng quyết định “thừa thắng xông lên”. Cho nên mới có chuyện điều động lực lượng ra biên giới với Lào và Căm-bốt, bằng cách lập nông trường quân đội, đẻ ra cái gọi là “tổng cục kinh tế của bộ quốc phòng”, và di dân từ Bắc vào, di nguyên cả làng. Bởi trong hai chục năm chiến tranh, các làng xã ở Bắc Việt Nam đều là “dân vi binh”. Có ban chỉ huy cấp tiểu đoàn ở xã. Và dân quân thì thông thạo sử dụng đủ loại vũ khí, đến mức dân quân vùng biển có pháo tầm xa để bắn ra tàu biển. Cho nên cần nhớ rằng: Di dân Bắc vào và thành lập các nông trường quân đội chính là điều động binh lực chốt ở biên giới định làm cuộc chiến bành trướng bất ngờ.

Nếu bước thứ nhất, tập đoàn Việt gian cộng sản tạm thành công việc vô hiệu hóa quân, dân, chính, đảng ở miền Nam, thì bước thứ hai là vô hiệu hóa nhân dân đô thị đã không như ý muốn của chúng. Nhiều tổ chức phục quốc với nhiều danh xưng khác nhau mọc lên khắp nơi. Tuy rằng chưa có tổ chức nào gây được tiếng vang lớn, nhưng đó là chỉ dấu hoàn toàn khác với sự an phận của nhân dân miền Bắc sau 1954.

Vừa nằm trong âm mưu “giữ con tin”, vừa có nhân lực cho chiến tranh bành trướng thực dân đỏ, tập đoàn Việt gian cộng sản tiến hành bước ba, nghĩa là chúng bắt thanh niên nam nữ của miền Nam vào “thanh niên xung phong” và đi “lính ngụy cộng sản”. Như thế là chúng sẽ tiêu diệt được lực lượng đối kháng tương lai, dùng địch giết thế hệ trẻ của miền Nam và dùng máu xương thế hệ trẻ của miền Nam mở rộng địa bàn của chủ nghĩa thực dân đỏ. Đồng thời cột gia đình những thanh niên bất hạnh đó vào cái lồng vô hình “cha mẹ, vợ con bộ đội cách mạng”, không dám giúp đỡ các tổ chức “phục quốc” của miền Nam.

Từ một lò ma giáo mà ra, nên đường đi nước bước của tập đoàn Việt gian cộng sản làm sao qua mặt được “anh hai Trung cộng”, vì thế cả Uông đông Hưng, thường vụ chính trị bộ Trung cộng và Đặng dĩnh Siêu, vợ của Chu ân Lai, thì thọt qua Căm-bốt với Pôn-pốt, Khiêu-xăm-phon và Iêng-xa-ri. Và, kẻ bị bất ngờ lại là tập đoàn Việt gian cộng sản. Nhưng, chết chóc, tang tóc đau khổ vẫn giáng lên đầu nhân dân, cả miền Nam, cả miền Bắc. Một phong trào phản kháng kiểu mới bùng nổ không gì cản nổi: vượt biên bằng mọi giá của nhân dân cả hai miền Nam và Bắc.

Khỏi cần nhắc lại cái giá của cuộc vượt biên đi tìm tự do.

Khỏi cần nhắc lại những khó khăn của những người tỵ nạn cộng sản Việt Nam phải vượt qua để hội nhập với nơi cư trú mới, kiến lập cuộc sống ổn định. Và, những gương thành công mọi mặt từ kinh tế đến khoa học kỹ thuật của cộng đồng người Việt hải ngoại đã được thống kê và nhắc đến nhiều.

Cái đáng nói là vẫn mở đầu bằng quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến kiểu mới chống tập đoàn Việt gian cộng sản. Đó là phó đề đốc Hoàng cơ Minh, là đại tá Võ đại Tôn, là anh hùng Lý Tống v.v… Từ đó các tổ chức yêu nước tự phát hình thành, phối hợp với nhau đã gây nên tiếng vang cả quốc tế, cả trong nước.

Sự thành công trong cuộc chiến của cộng đồng người Việt hải ngoại chống tập đoàn Việt gian cộng sản, khiến chúng không dám hỗn láo gọi cộng đồng người Việt hải ngoại là “đĩ điếm, phản động, tỵ nạn kinh tế v.v…”. Chúng phải thừa nhận cộng đồng người Việt hải ngoại là Việt kiều yêu nước!!! Và, chúng thi hành những âm mưu thâm độc là cài người nằm vùng trong các tổ chức của cộng đồng người Việt; lèo lái, mua chuộc những tụi cơ hội; đe dọa những người trót làm “ăng ten” cho chúng khi còn ở trong nước, khi còn ở các “trại cải tạo” để làm việc cho chúng, từ kinh tế lái sang văn học nghệ thuật rồi cái đích cuối cùng là lập trường chính trị. Thủ đoạn của chúng là phá sự đoàn kết của cộng đồng, phân hóa thành nhiều phe nhóm; phá hoại trong từng nhóm; đẻ ra nhiều quan điểm để mọi người mất thì giờ tranh luận, quần chúng thầm lặng chán nản. Khai thác tính ngại khó ngại khổ, nôn nóng và vụ lợi của người ta (nói chung) để đưa ra những lập luận “nghe thì có vẻ ôn hòa, hợp lý” nhưng thực ra rất nguy hiểm như “ma túy bọc đường”. Bên cạnh đó thì chúng tung tin bịa đặt để dần dần làm mọi người lúc nào cũng “hoài nghi”, không biết tin vào đâu.

Hoàn toàn khác với miền Bắc trước 4-1975. Loại trừ sự phản kháng với kiểu “lửa rơm” của “nhân văn – giai phẩm”, mau chóng bị dẹp, sự phản kháng của nhân dân miền Bắc Việt Nam cao nhất là “lãn công, lãng phí, buôn lậu, phá hoại sản xuất” mà cũng chỉ là tự phát, không có tổ chức. Ngoài ra, trong lĩnh vực văn học cũng chỉ tìm cách “luồn lách” vài bài chửi chế độ một cách bóng bẩy, xa xôi đến mức quần chúng cũng chẳng để ý tới. Và nực cười là chính lũ gác cửa tòa nhà văn nghệ của chúng vì la lối nên mới làm cho người đọc hiểu ra cái mặt thật của ông Lý Toét!!!

Về danh nghĩa, có hai đảng Dân chủ và Xã hội, nhưng lãnh đạo chủ yếu lại là “chi bộ cộng sản” nằm vùng với mấy con rối như Nghiêm xuân Yêm, Trần đăng Khoa, Nguyễn Xiển, Đỗ xuân Sảng v.v… tất cả đều không còn gan và mật và bộ óc thì chín phần mười được thay bằng bã đậu phụ!!!

Cho nên hai đảng Dân chủ và Xã hội được dùng làm đồ trang trí cũng như làm “bông hoa mướp vàng” để câu mấy chú ếch làm chính trị ở trong Nam như Lâm văn Tết, Dương quỳnh Hoa, Trương như Tảng, Trần bửu Kiếm v.v… như nhóm gọi là “thành phần thứ 3” ở Vạn Hạnh v.v… hay cha con Ngô bá Thành, tụi “phản chiến” như anh em Hoàng phủ ngọc Tường, Trịnh công Sơn, Lê văn Hảo, Miên đức Thắng v.v…

Tập đoàn Việt gian cộng sản, dưới sự chỉ đạo của tên gián điệp dày dạn Hồ chí Minh, trong thực tế đã vô sản hóa toàn dân miền Bắc, nô lệ hóa từ trí thức tới tiểu thương buôn thúng bán mẹt, mua bán ve chai, cho tới cả các đảng phái không cộng sản, nhân sỹ và các hội đoàn tôn giáo. Cho nên Hồ không cần ghi vào hiến pháp 1959 của hắn “sự độc quyền lãnh đạo”. Và, cũng không thể ghi như thế được, vì đó là cái “lỗ hổng” để Hồ lừa những chú dế mèn ở miền Nam, có bệnh đứng núi này trông núi nọ, làm cái chuyện “dế mèn phiêu lưu chính trị”!!!

Còn ở miền Nam Việt Nam sau 1975, lũ đệ tử Việt gian cộng sản của Hồ phải đương đầu với tinh thần làm chủ, ý chí bất khuất của nhân dân miền Nam, sau khi đã được sờ cái “thiên đường XHCN ở miền Bắc” không chỉ qua đường lối cai trị mà bằng “những con người mới XHCN” từ miền Bắc vào, trông na ná như người đói của Thái-bình năm Ất Dậu (1945) bỏ làng đi tìm miếng ăn!

Các tổ chức chống cộng ồ ạt nổi lên hệt như các phong trào nổi lên của người Việt Nam thời Bắc thuộc và thời thực dân Pháp. Tổ chức nào cũng có tuyên ngôn, cương lĩnh chính trị và dùng biện pháp vũ trang phục quốc.

Những hình ảnh lịch sử của Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu được tái lập qua các anh hùng của lực lượng vũ trang của Việt Nam Cộng Hòa như liệt sỹ Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Long v.v…

Những hình ảnh hiên ngang, tự hào là quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, ngay trong hàng rào kẽm gai, ngay trước họng súng của cai ngục công sản như tấm gương của trung úy Võ Văn Tưng (Hòa Hảo, cùng ở trại giam ngày đầu tiên với trung tướng Huỳnh văn Cao) không phải là cá biệt. Trong nhà tù của Việt gian cộng sản có rất nhiều tù nhân mới ở lứa tuổi 16, đã tự nguyện vùng lên lật ách cộng sản. Tuy ngoài mặt bọn công an, báo chí của tập đoàn Việt gian cộng sản “chế giễu” những tổ chức đó, nào là “ngoan cố”, nào là “vài mống”, nào là “rổm”, đủ thứ ngôn ngữ mà bọn chúng chế biến được. Nhưng, thực ra chúng hiểu rằng những đốm lửa quật cường đó tuy “nhỏ”, “lẻ loi”, nhưng lại đều khắp, và nếu có “thời cơ”, sẽ có thể thành bão lửa. Đấy là lý do các đệ tử của Hồ phải xóa sổ hai đảng Dân chủ và Xã hội, ghi vào hiến pháp của chúng sự độc quyền đảng trị của tập đoàn Việt gian cộng sản.

Nghĩa là chúng có thể nới lỏng về kinh tế (chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân); nới lỏng về văn hóa (văn thơ mùi mẫn, bớt sắt máu). Nhưng về chính trị và tư tưởng thì chúng vẫn ngoan cố bám giữ và độc quyền nắm lực lượng vũ trang (lính, công an và hải quan).

Nói tóm lại, những dẫn chứng ở trên đã chứng minh rằng, trước 4-1975, ở miền Bắc Việt Nam:

– Không có cá nhân hay tổ chức nào tranh quyền lãnh đạo với tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh (ngoại trừ đấu đá nội bộ giữa “xét lại” và “giáo điều” thì cả hai vẫn là cộng sản);

– Cần thiết giấu mặt “độc tài đảng trị” để lừa miền Nam Việt Nam (và cả quốc tế nữa).

Cho nên Hồ không cần ghi vào hiến pháp của hắn điều khoản độc tài đảng trị.

Còn sau tháng 4-1975, ở miền Nam Việt Nam:

* Các tổ chức Phục quốc nổi lên như nấm, cùng có mục tiêu chung là “lật đổ tập đoàn Việt gian cộng sản, xóa bỏ chế độ cộng sản và hệ lụy của nó”;

* Đặc biệt sự hình thành của cộng đồng người Việt ở hải ngoại là thách đố thường trực đối với tập đoàn Việt gian cộng sản. Tuy chưa thống nhất được lực lượng do âm mưu của tập đoàn Việt gian cộng sản cài người nằm vùng đánh phá, gây chia rẽ trong cộng đồng, làm phân hóa lực lượng, giành quyền kiểm soát cộng đồng. Nhưng sức mạnh của cộng đồng cả kinh tế, cả văn hóa, cả chính trị đã lay động sự lãnh đạo của tập đoàn Việt gian cộng sản khiến chúng bị động và cũng bị phân hóa lực lượng, ngày càng lộ nhược điểm chủ yếu;

* Cộng đồng người Việt hải ngoại là chỗ dựa cả tinh thần và cả vật chất cho nhân dân quốc nội vùng lên.

Nhờ sự đấu tranh bền bỉ của cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà “toàn bộ” các cá nhân, các nhóm bất đồng chính kiến ở quốc nội mới thoát ra ẩn số, được quốc tế biết đến, được các giải thưởng quốc tế, cho nên tập đoàn Việt gian cộng sản không dám “khát máu”, uyển chuyển trong đàn áp. Sự ra đời nghị định 31/CP do Võ văn Kiệt ký, sau Phan văn Khải bổ túc lại. Vì thế, ít ra những người bất đồng chính kiến cũng an tâm chịu tù, quản chế nhưng không sợ bị thủ tiêu hoặc tử hình.

Đó là lý do chủ yếu tập đoàn Việt gian cộng sản phải dựa vào hiến pháp của chúng “điều 4” và “bảo vệ nó như con ngươi của mắt”.

Việc “đưa điều 4 vào hiến pháp” không hề trái với tư tưởng chủ đạo của Hồ như một số cây bút “đấu tranh” cố tình hư cấu chạy tội cho Hồ. Vì Hồ luôn căn dặn đệ tử:

* Không được chia quyền lãnh đạo lực lượng vũ trang;

* Phải xây dựng thành công CNXH;

* Yêu nước là yêu CNXH.

Thử hỏi:

Tại sao tập đoàn Việt gian cộng sản phải “độc quyền” lực lượng vũ trang?

Bởi “độc quyền” lực lượng vũ trang thì mới thực hiện được trọn vẹn sự độc tài đảng trị. Cho nên dù có như thời của những năm 50, sau Hồ khi nắm trọn được lính và công an, thì trên thực tế Chính phủ Liên hiệp đa đảng chẳng còn quyền gì. Đó là một cuộc đảo chính âm thầm.

Và, cũng vì “độc quyền” nắm giữ lính và công an nên Hồ mới cho bắt “nhóm xét lại” dễ như thò tay vào túi vậy.

Nhưng có một ý nghĩa quan trọng hơn cả là phải dùng lính và công an để bắt nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, có nghĩa bản thân Hồ (và bây giờ là lũ đệ tử) cũng hiểu cái chủ nghĩa xã hội chẳng có ích lợi gì cho nhân dân Việt Nam mà chỉ đem lại sự hưởng thụ trọn vẹn cả tinh thần cả vật chất cho Hồ và tập đoàn Việt gian của hắn mà thôi.

Một câu hỏi khác:

Tại sao phải xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội?

Trước hết phải nói đến nội dung của chủ nghĩa xã hội, mà như bọn Việt gian cộng sản truyên truyền rằng:

1- Có năng xuất lao động cao hơn hẳn năng xuất lao động của chủ nghĩa tư bản;

2- Không có cảnh người bóc lột người;

3- Làm theo năng lưc, hưởng theo việc làm;

4- Tài nguyên đất nước, tài sản xã hội đều thuộc quyền sở hữu của toàn dân.

Cái nội dung trên, thực tế như son phấn tô điểm trên mặt gái điếm hay kiểu “nước vỏ lựu, máu mào gà” mà cụ Nguyễn Du viết trong truyện Kiều mà thôi. Vì chưa thấy đạt được một điểm nào ngay chính tại Nga-xô cũ.

Còn cái nội dung đích thực chính là:

* Bần cùng hóa toàn dân. Toàn bộ tài nguyên đất nước, tài sản xã hội, toàn thể nhân dân đều thuộc quyền sở hữu của tập đoàn Việt gian cộng sản. Có như vậy chúng mới “tự do” thực thi chiến lược bành trướng của mẫu quốc đỏ. Và, gần đây nhất (1999-2001) chúng đã dâng đất, dâng biển cho “anh hai bá quyền Trung cộng” của chúng, coi nhân dân chỉ là con số “0”!!!

Bốn cái nội dung mị dân nói trên bị lộ vở, vì ngay Nga-xô và khối Đông-âu tìm mãi để cuối cùng trở lại lối mòn của kinh tế thị trường! Cho nên bây giờ chúng cố moi ra cái gọi là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Đó là tiếng lóng của mafia đỏ cộng sản, mà nghĩa đen của nó là:

* Kinh tế thị trường là nới lỏng cái thòng lọng kinh tế, cho họ hàng tay chân dựa vào sự nới lỏng đó mà bung ra làm kinh tế, tự nuôi lấy thân mà phục vụ tập đoàn Việt gian cộng sản, tha hồ bóc lột dân;

* Định hướng XHCN là tất yếu tập đoàn Việt gian cộng sản phải là chủ nhân của lực lượng vũ trang, chủ nhân của tài nguyên đất nước và chủ nhân của đám “quan lại đỏ, cường hào đỏ” và chủ nhân của toàn dân.

Sự khác biệt với trước kia là xã hội có thêm giai cấp tư sản đỏ và địa chủ cường hào đỏ là chỗ dựa của tập đoàn Việt gian cộng sản. Nhân dân lao động bao gồm công nhân, nông dân, tiểu chủ trở thành đối tượng bị bóc lột. Bản thân những tên trong trung ương mafia đỏ và tay chân thân cận thành “cá mập đỏ” và bọn chúng cấu kết thành “tập đoàn tài phiệt đỏ”, chia sẻ quyền bóc lột nhân dân Việt Nam, tài nguyên của Việt Nam với các tập đoàn tài phiệt quốc tế.

Câu hỏi chót là: Tại sao yêu nước lại phải yêu CNXH?

Bộ trước khi tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh mang bệnh Aids XHCN về Việt Nam thì ở Việt Nam không có khái niệm yêu nước và không có ai yêu nước sao? Cho nên đây cũng là lối nói tiếng lóng của tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh, mà nghĩa đen là: Ai không yêu tập đoàn Việt gian cộng sản là bị khép tội không yêu nước. Và tất nhiên không yêu nước thì phải giết đi hoặc cho vào tù khổ sai. Tại sao lại có ý nghĩa như vậy? Bởi vì cái gọi là CNXH thì chưa ai biết nó “đầu dê mình ngựa” ra sao, ngay tại cả Nga-xô trước đây (nói CNXH với bốn cái nội dung trên). Cho nên chỉ còn lại cái gọi là “đảng cộng sản” là những kẻ tự hào cho là biết hình thù cái CNXH đó như thế nào và sẽ lãnh đạo mọi người đi tìm CNXH. Chứ các đảng khác như ở Việt Nam thì có VNQDĐ, Đại Việt, Duy Dân, Phục Quốc v.v…, thế giới có các đảng Cộng hòa ở Mỹ, Bảo thủ ở Anh, Dân chủ Tự do ở Nhật v.v…, chẳng đảng nào biết và tìm cái gọi là CNXH.

Bởi thế, tập đoàn Việt gian cộng sản cố tình giáo dục thiếu nhi như chúng nêu lại “mục tiêu giáo dục đào tạo” nhân cái gọi là kỷ niệm 60 năm thành lập đoàn thiếu niên tiền phong, là:

“Một lòng một dạ trung thành với đảng (tức cộng sản)… phấn đấu trở thành cháu ngoan bác Hồ, đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ chí Minh”!!! (Nhân dân điện tử, số 773, chủ nhật, 13-5-2001).

Cho nên “tư tưởng lưu manh của Hồ” trong câu: yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội, muốn căn dặn đệ tử rằng: Ai chống đảng cộng sản là chống chủ nghĩa xã hội, ai chống chủ nghĩa xã hội là không yêu nước, là phản quốc nên cứ việc giết thẳng tay hoặc cho đi tù khổ sai chung thân.

Thử tính xem, từ ngày Hồ chí Minh và tập đoàn Việt gian cộng sản của hắn đảo chính Chính phủ Liên hiệp đa đảng, tiếm quyền thống trị, bọn chúng đã “giết” và “bỏ tù” bao nhiêu chục triệu nhân dân Việt Nam. Cuộc chiến xâm lược miền Nam Việt Nam do Hồ phát động cũng chính nhằm mục đích trừng phạt nhân dân miền Nam vì không yêu CNXH, tức không “yêu nước” nên bị Hồ gọi là “ngụy”, là “phản động”.

Vì thế, người Việt ở hải ngoại nên cảnh giác lối chơi chữ và nói tiếng lóng của tập đoàn Việt gian cộng sản. Bị dụ khị bởi cụm từ “kinh tế thị trường” nhào về Việt Nam làm ăn (dù động cơ “chụp giựt” hay “muốn xây dựng đất nước”), coi chừng cái “”định hướng XHCN” sẽ nuốt cả vốn lẫn lãi và có khi cả thân xác nữa đấy!!! (vì XHCN là vô sản hóa, là nô lệ hóa). Lúc há miệng kêu, chúng sẽ nói rằng chúng đã ghi rõ là “định hướng XHCN” đấy thôi; y như bài học hơn hai mươi năm trước đây của cái gọi là “duy trì năm thành phần kinh tế” và “đóng tiền đi học tập 10 ngày”.

Hiện nay, tập đoàn Việt gian cộng sản đã thống nhất cấu kết với nhau dâng đất dân biển cho Trung cộng. Đây là gót chân Archill của chúng. Mọi cây bút có trách nhiệm của quốc nội và hải ngoại cần tập trung vạch mặt Việt gian dâng đất, dâng biển cho Trung cộng của chúng, từ khi Hồ còn cầm quyền đến nay là Nông đức Mạnh, có sự nhất trí của tất cả các đời “tổng bí thư” của chúng là Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười, Lê khả Phiêu và Nông đức Mạnh, cũng như tất cả những tên từng là thành viên chính trị bộ của chúng, từ thời Hồ đến nay.

Nếu nhân dân quốc nội, nhất là nông dân, được giải phóng khỏi cái “thần tượng” Hồ chí Minh thì họ sẽ thấu hiểu sâu sắc rằng muốn có tự do, cơm no, áo ấm cho bản thân và các thế hệ con cháu, thì chỉ có một con đường duy nhất: đó là nỗ lực thay đổi thể chế xã hội hiện nay ở Việt Nam, để cho nhân dân thực sự là chủ, thực sự tự do bầu người đại diện để quản lý đất nước và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.

Hồ là chỗ dựa lý luận của tập đoàn Việt gian cộng sản đương quyền hiện nay. Bọn chúng đã và đang nhét một lô các luận điệu mị dân, các bánh vẽ vào cái gọi là “tuyển tập Hồ chí Minh”. Cái gì Hồ lỡ miệng nói láo thì chúng bỏ đi hoặc sửa lại cho phù hợp với hiện tại. Chúng còn cố tình bịa thêm vào cái gọi là “kho tàng” của “tư tưởng Hồ chí Minh” khiến những nhà nghiên cứu, quen như ở các nước thuộc thế giới tự do, dựa vào đống tài liệu giả đó thì làm sao hiểu được sự thật, và mất thì giờ như mấy nhà giả kim thuật thời trung cổ vậy.

Cho nên các ngòi bút ở hải ngoại cần tập trung đánh vào nền tảng lý luận của tập đoàn Việt gian cộng sản đương quyền là “tư tưởng Hồ chí Minh”, là “chủ nghĩa Hồ chí Minh” do mấy cây bút “chống đối” hư cấu.

Nhiều bộ óc cả nể đã đưa ra những lập luận mơ hồ, nước đôi. Họ không dám (mà cũng có thể là không nỡ) tách bạch cái đúng và cái sai của những ngòi bút “chống đối” hoặc “ly khai”.

Thí dụ: Ông Bùi Tín

Trong các sách của mình và các bài viết, có công vạch phần nào “mặt thật” của tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh. Nhưng ông cũng để lộ ra nhiều “mặt giả”. Ngay bản thân ông ta, cũng chưa thấy cái sai (kiểu cộng sản) khi ông ta hăm hở viết cuốn “Mặt thật các tướng ngụy Sài-gòn”, với nhiều tình tiết của ngòi bút được đào tạo và nhuần nhuyễn “bôi đen, tô hồng”. Ông Bùi Tín có thể bôi bẩn trọn vẹn các tướng lãnh của QLVNCH mà chắc chắn hoặc ông chỉ nghe nói hay “hư cấu”. Còn với các tướng ngụy cộng sản, ông đã được chung sống với chúng thì chưa thấy ông vạch “mặt thật” hết bọn chúng ra, kể cả Võ nguyên Giáp.

Ông Trần Độ

Vẫn còn tự hào là môn đồ trung kiên của Hồ, vẫn chưa thấy cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam là một vết đen trong đời ông, từ một người yêu nước biết thành kẻ giết dân mà ông đầy tự hào.

Ông Nguyễn thanh Giang

Có nhiều mâu thuẫn trong viết và trả lời phỏng vấn khiến lúc ông đỏ, lúc xanh, không rõ ràng. Gần đây nhất, trong cuộc trả lời phỏng vấn của đài Little Saigon, ông nói “lãnh đạo cộng sản bị Trung cộng lừa”, trong vụ ký kết hiệp định biên giới Việt-Hoa. Nội dung đó là sự xuyên tạc trắng trợn, bây giờ cũng nguy hiểm và càng nguy hiểm hơn cho thế hệ Việt Nam tương lai. Vì căn cứ vào lời phát biểu của một “nhân vật chống đối nổi tiếng” cả trong và ngoài nước; một người có bằng cấp tiến sỹ, nghĩa là “dùng chữ chính xác”, “ăn nói có suy nghĩ” thì như vậy, tập đoàn Việt gian cộng sản vô tội, chúng bị lừa nên chúng chỉ là nạn nhân thôi.

Thời Hồ cầm quyền, tập đoàn Việt gian cộng sản đã dâng đất, dâng biển cho Trung cộng. Chứng cớ rành rành với chữ ký của Ung văn Khiêm (1956) và Phạm văn Đồng (1958). Còn hiện nay, từ 1997 cho đến khi đặt cọc mốc đầu tiên tháng 12-2001, trong 4 năm trời tin đi mối lại với đủ bộ mặt đặc sệt Việt gian là Nguyễn văn Linh, Võ văn Kiệt, Đỗ Mười, Lê đức Anh, Lê khả Phiêu, Nguyễn mạnh Cầm, Trần đức Lương, Nông đức Mạnh, Nguyễn văn An thì thọt sang Tàu, lén lút ký, lén lút thông qua, bất chấp mọi tiếng nói cảnh tỉnh của từ cụ Đỗ việt Sơn, đến luật sư Lê chí quang và .v.v…, cả trong và ngoài nước. Xin hỏi ông tiến sỹ Nguyễn thanh Giang rằng: Quá trình hành động của tập đoàn Việt gian cộng sản như vậy là chúng ngoan cố và cố tình dâng đất, dâng biển cho Trung cộng “hay là chúng bị lừa”. (Nghĩ rằng lòng trung thực sẽ thúc đẩy ông lên tiếng cải chính vì chót lỡ lời). Trò “ảo thuật” chỉ qua mắt một số nào đó vô tình, nhưng không thể qua mắt được số đông, trước sau cũng lộ vở. Chuyện đời là như vậy!

Tập đoàn Việt gian cộng sản đương quyền tiếp tục thần thánh hóa họ Hồ.

Một số ngòi bút “chống đối” ở quốc nội và hải ngoại tiếp tục đề cao họ Hồ qua huyền thoại và hư cấu ra cái gọi là “chủ nghĩa Hồ chí Minh”.

Hai bên rõ ràng cùng thờ một chủ. Hay nói cách khác là giống như xưa kia tờ Nouvel Observateur đã vẽ hý họa cuộc đấu đá của “xét lại” và “giáo điều”. Có nghĩa họ là anh em cùng cha khác mẹ.

Một bên là định hướng xã hội chủ nghĩa và độc quyền đảng trị.

Một bên “hứa” đa đảng (như Hồ thuở 1945-52) và xây dựng chủ nghĩa xã hội (kiểu mô hình Hồ chí Minh đã thể hiện qua “cải cách ruộng đất”, “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh” và v.v…). Hình thù vẫn là cái bánh vẽ của người chưa được cầm quyền, giống hệt khi Hồ còn chưa nắm được quyền lực trọn vẹn. Và với cái “chủ nghĩa Hồ chí Minh” chỉ đạo, họ sẽ hành sử như thế nào là điều có thể thấy được rồi.

Cộng đồng người Việt hải ngoại nên ôn lại bài học lịch sử đã qua. Nếu không sẽ là câu chuyện gậy ông đập lưng ông. Trong khi chúng ta ủng hộ, cổ võ, bảo vệ những cây bút đeo nhãn “chống đối” mà không phê phán những quan điểm sai trái của họ, thế là chính chúng ta đánh bóng họ từ A đến Z, làm cho họ thoát ra ẩn số. Có uy tín cả trong nước, cả quốc tế. Hầu hết họ được giải thưởng quốc tế hoặc được đề nghị xét tặng giải thưởng quốc tế là hoàn toàn do công sức của cộng đồng người Việt hải ngoại. Còn người Việt ở hải ngoại có biết bao người bị bỏ quên như Lý Tống, Hoàng cơ Minh, Võ đại Tôn, kể cả những người đã hy sinh như Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch và bao ngòi bút đấu tranh không mệt mỏi như Nguyễn Văn Canh, luật sư Nguyễn Văn Thắng, Tưởng Năng Tiến, Đại Dương, Lê Hữu Mục, Võ Văn Aí, Phương Nam, Trần Bình Nam, Trần Viết Đại Hưng, Trương Gia Phụng, Lâm Lễ Trinh, Đinh Từ Thức, Trực Ngôn v.v…

Thử tưởng tượng, vì tội ác dâng đất dâng biển cho Trung cộng quá rõ ràng (chứ không phải bị lừa như tiến sỹ Nguyễn thanh Giang nhận định), nên tập đoàn Việt gian cộng sản đương quyền đành lùi một bước. Giả dụ là xóa bỏ điều 4 trong hiến pháp của chúng (vì chúng vẫn còn độc quyền lực lượng vũ trang, công an) và cho bầu lại quốc hội có giám sát quốc tế. Chúng ta thử nghĩ xem, cũng giả dụ là ông Võ Đại Tôn và luật sư Nguyện Văn Thắng từ hải ngoại về mà cũng được ứng cử thì số phiếu của 4 người như ông Võ Đại Tôn, luật sư Nguyễn Văn Thắng với tiến sỹ Nguyễn thanh Giang và Trần Khuê, nhóm nào được phiếu nhiều hơn.

Chắc chắn tiến sỹ Nguyễn thanh Giang và Trần Khuê sẽ nhiều phiếu hơn. Và giả dụ là họ trúng cử vào quốc hội. Thử hỏi nếu tập đoàn Việt gian cộng sản đưa ra thông qua cái chính sách mà chúng “đi theo con đường của Hồ” thì các ông tiến sỹ Nguyễn thanh Giang và Trần Khuê sẽ chống hay ủng hộ?

Chúng ta vì là “nạn nhân của con đường Hồ lựa chọn” nên mới phải lưu vong ra nước ngoài. Có thể nào chúng ta quên bài học đó để tiếp tục cho những người nhân danh “chủ nghĩa Hồ chí Minh” xỏ mũi dắt đi như dắt trâu không?!!!

Tóm lại, tất cả những dẫn chứng được nêu trên nhằm phản bác không chỉ “huyền thoại Hồ chí Minh” do Lữ Phương viết mà còn vạch trần cái gọi là nội dung của “chủ nghĩa Hồ chí Minh” (nếu gọi đó là chủ nghĩa) chính là “chủ nghĩa đầu hàng bá quyền nước lớn, trước là Nga-xô và Trung cộng, nay là Trung cộng”.

Mới đây, tập đoàn Việt gian cộng sản đương quyền dâng đất, dâng biển cho Trung cộng là cái tất yếu phải như vậy, vì chúng đã được dẫn dắt bằng “tư tưởng Hồ chí Minh” mà các cây bút “chống đối” ở trong nước đánh bóng, nâng cấp thành “chủ nghĩa Hồ chí Minh”.

Xưa Hồ chí Minh dâng đất, dâng biển cho Trung cộng để đổi lấy sự ủng hộ của Trung cộng trong việc xé bỏ hiệp định Genève 1954 về Việt Nam, thực hiện nô lệ hóa nhân dân miền Bắc Việt Nam; mượn đường của Trung cộng để chở vũ khí từ Nga-xô về cũng như mua vũ khí của Trung cộng, để xâm lược miền Nam Việt Nam, tiến tới nô lệ hóa cả hai miền Bắc và miền Nam Việt Nam, đặt ách thực dân đỏ.

Nay lũ đệ tử của Hồ nắm quyền lãnh đạo tổ chức Việt gian cộng sản của Hồ để lại, tiếp thu bài học bán nước của Hồ, đã trắng trợn dâng đất dâng biển cho Trung cộng nhằm:

1- Dựa vào Trung cộng để đối phó với sự nổi dậy của nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước.

2- Để chuyển tài sản bọn chúng đã bóc lột, ăn cướp được, trong những năm cầm quyền, mà trước đây chúng gửi tại ngân hàng phương Tây, nay gửi vào ngân hàng của Trung cộng. Như thế vừa bí mật vừa dùng ngân hàng của Trung cộng để rửa tiền ăn cướp, tham nhũng, vừa đề phòng khi bị xét xử, nếu tiền gửi ở phương Tây sẽ bị trả lại cho chính phủ phi cộng sản của Việt Nam tương lai; còn gửi tại Trung cộng được Trung cộng cam đoan giữ an toàn. Và, nếu ngày nào đó không xa, bị nhân dân lật đổ, chúng cùng gia đình và tay chân có thể an toàn “cư trú chính trị”, sống cuộc đời vương giả ở Trung cộng.

Ngày nay, giới chức nào trong tập đoàn Việt gian cộng sản cũng vơ vét được cả trăm triệu US đô-la. Những tên có trên một tỷ US đô-la đã bị lộ (chưa kể của chìm hoặc tiền gửi chưa bị lộ) đều liên quan trực tiếp đến việc dâng đất đâng biển cho Trung cộng, như:

– Nguyễn tấn Dũng, phó thủ tướng thường trực: 1 tỷ 480 triệu đô-la

– Phạm văn Trà, bộ trưởng quốc phòng: 1 tỷ 360 triệu đô-la

– Phạm thế Duyệt, chủ tịch mặt trận “tổ cuốc”: 1 tỷ 173 triệu đô-la

– Lê khả Phiêu, nguyên tổng bí thư: 1 tỷ 170 triệu đô-la

– Nguyễn mạnh Cầm, phó thủ tướng: 1 tỷ 150 triệu đô-la

– Trương tấn Sang, trưởng ban kinh tế: 1 tỷ 124 triệu đô-la

– Phan văn Khải, thủ tướng: 1tỷ 200 triệu đô-la

(Theo tài liệu của cụ Hoàng cơ Thụy).

Loại bạc tỷ đô-la Mỹ như trên còn dài dài, vì phải thêm tên tụi Lê đức Anh, Võ văn Kiệt, anh em Lê đức Thọ, Mai chí Thọ; gia đình Lê Duẩn, Trường Chinh, Văn tiến Dũng và v.v… Mà con số tiền tỷ đô-la Mỹ đó cũng mới chỉ là phần nổi bị lộ; chưa kể phần chưa bị lộ; chưa kể các bất động sản, các cổ phần hùn hạp, vàng, hạt xoàn v.v… Ngay Nông đức Mạnh, Nguyễn văn An bị coi là chậm chân mà mỗi đứa cũng có ngót 150 triệu US đô-la, kể cả tên bộ trưởng Lê minh Hương hoặc nguyên thư ký của Đỗ Mười là Lê xuân Tùng.

Cần lưu ý rằng tất cả số tiền chúng có đều vơ vét trong khoảng chục năm hoặc hơn chục năm mà thôi. Thật là kỷ lục!!!

Chính vì đống đô-la Mỹ bộn xộn như vậy nên bọn chúng đồng tâm nhất trí để “bị lừa”, như chữ nghĩa của ông tiến sỹ Nguyễn thanh Giang, nhà “chống đối” nổi tiếng cả trong và ngoài nước Việt nam.

Nhưng lịch sử đã chứng minh rằng: “Kẻ đã và đang bị lừa là nhân dân Việt Nam. Và cũng chính nhân dân Việt Nam sẽ vạch mặt tụi lừa đảo và cho chúng đi cải tạo cùng Hồ ở hỏa ngục!”

Một “huyền thoại về Hồ chí Minh” của Lữ Phương chứ vạn “huyền thoại về Hồ chí Minh” cũng chỉ đã, đang và mãi mãi sẽ là bọt bèo, làm sao cứu được sự chết đuối của tập đoàn Việt gian cộng sản!!!

Xin hãy chờ xem!

Xuân Nhâm Ngọ – 2002

Việt Thường

____________________

Chú thích:

– Sự tích: Con yêu râu xanh ở Việt Nam, do cơ sở Quật Khởi, ở Hoa kỳ, ấn loát và xuất bản, năm 2002.

– Quý độc giả có thể tìm mua ở nhà sách “Văn Bút”, Little Saigon, Hoa kỳ. Hoặc có thể liên lạc với Nguyệt san Người Dân, địa chỉ: P.O. BOX 2674 – Costa Mesa – California 92628 – USA.

Trân trọng cảm ơn quý độc giả đã dành thì giờ cho quyển sách này.

Thân kính,

Việt Thường

http://sutichconyeurauxanhovietnamhochiminh.blogspot.com/

Sự tích: Con yêu râu xanh ở Việt Nam – Hồ Chí Minh 17/18

Sự tích: Con yêu râu xanh ở Việt Nam

* * * * *

Việt Thường

Bài 17

Sân bệnh viện 308 (tức bệnh viện Đồn Thủy cũ) chiếu phim ngoài trời, một thằng nhỏ 10 tuổi bị một bà già đặt ghế ngồi lên trước nó, thế là thằng nhỏ về nhà lấy dao ra đâm bà già chết tươi.

Những chuyện trẻ em trên dưới 10 tuổi đâm chết người xảy ra như cơm bữa ở khắp nông thôn, thành thị miền Bắc Việt Nam vào lúc Hồ chưa ngỏm. Nơi xảy ra khá phổ biến và giết người một cách tàn nhẫn, như sát thủ chuyên nghiệp, lại chính là khu tập thể sỹ quan ngụy cấp tá ở Đống Đa (Hà-nội).

Xin lưu ý rằng chuyện trẻ con giết người ở miền Bắc Việt Nam khi ấy là phổ biến và đều khắp ở mọi địa phương. Và, trẻ con, “những cháu ngoan bác Hồ” trở thành tai họa của xã hội. Chúng đi hàng đoàn, chọc ghẹo các người già; mới trên dưới 10 tuổi mà đã rượt theo bao vây những cô gái đi một mình để bóp vú, cấu mông. Nhiều vụ “hiếp dâm” tập thể của con nít đã xẩy ra (chuyện này nếu cho là “chưa thuyết phục” thì Lữ Phương có thể hỏi ông Kỳ “sữa”, cán bộ cao cấp của ngành du lịch ngụy quyền Hà-nội, xem bản thân ông ta trong một thời gian bao lâu và đã chứng kiến bao nhiêu vụ; hoặc có thể hỏi trung tướng công an mafia đỏ, nguyên tổng cục trưởng tổng cục bảo vệ kinh tế, khi còn là phó giám đốc công an mafia đỏ ở Hà-nội, xem hắn đã thụ lý bao nhiêu vụ, và ngay con trai hắn cũng ngang nhiên “bóp vú” cô giáo ở trường Lương-yên (Hà-nội); hoặc hỏi Hồng Vinh, nay là ủy viên trung ương mafia đỏ, chủ tịch hội nhà báo (láo) của mafia đỏ kiêm phó ban văn hóa tư tưởng (phó cho Nguyễn khoa Điềm), xem ngày hắn từ Hà-tĩnh về làm phóng viên nội chính của báo Nhân dân, hắn đã được đọc bao nhiêu biên bản về con nít giết người, hiếp dâm tập thể; cũng như hắn đã đọc bao nhiêu bản kiểm điểm của gái điếm bị giam ở Phủ-lý, Hoà-bình và Thái-nguyên khai đã được “công an”, cạo đầu mặc áo sư về trụ trì ở các chùa, đưa vào chùa hành lạc như thế nào. Vì tất cả mọi vụ nói trên bị Hồ xếp là “tiêu cực” do hậu quả của “chủ nghĩa thực dân mới” nên không bao giờ được đưa tin trên báo, đài).

Cầm sách giáo khoa lớp 1, lớp 2 của ngụy quyền Hồ chí Minh biên soạn và phát hành mà hãi hùng. Trong phần học tính cộng, tính trừ cho lứa tuổi lên 6, lên 7 mà được dạy như sau:

– Hôm trước anh “bộ đội giải phóng” bắn chết 3 “thằng lính ngụy”, hôm nay lại bắn chết 5 “thằng” nữa. Hỏi trong 2 ngày anh “bộ đội giết được bao nhiêu”?

Trẻ em, “cháu ngoan bác Hồ”, ở lứa tuổi “đi ỉa còn phải có người lớn rửa đít cho” mà đã bị nhồi nhét toàn chuyện giết người thì hỏi rằng dù có cố tình đến đâu cũng không thể chạy tội cho tên Việt gian Hồ chí Minh về dã tâm của hắn muốn biến nhân dân Việt Nam thành sát thủ binh nô cho chiến lược toàn cầu của mẫu quốc đỏ.

– Nếu ai đó hỏi một đứa bé lớp 1 (tức 6 tuổi) rằng: “Lính ngụy là ai?” thì được nghe trả lời: “Là lính Sài-gòn!!!” Thật là đơn giản mà cũng thật là nguy hiểm và đau lòng cho những ai còn nghĩ đến Việt Nam.

Thật là rõ ràng họ Hồ muốn “trồng” những “con người mới XHCN”, là những con người chỉ có trong đầu một tiếng “giết”, và đối tượng để “giết” là Sài-gòn! (Nghĩa là nhân dân miền Nam). Cho nên chẳng có gì lạ, khi Bùi bình Thi và Đỗ Chu (hai nhà văn ngụy quân cộng sản) trong chuyến đi theo lính ngụy cộng sản xâm lăng miền Nam Việt Nam 1975, chút xíu bị “bắn” tại Tây-ninh, chỉ vì thấy đám lính ngụy cộng sản, tuổi chừng 17 cho đến 20 là cùng đã chôn cơm chúng ăn còn thừa chứ không cho các em nhỏ ở Tây-ninh lạc gia đình bị đói xin ăn, nên “phê bình” chúng. Bọn ngụy quân cộng sản trẻ tuổi đó (lính của tướng Trần Độ) tuyên bố với Bùi bình Thi và Đỗ Chu rằng: “Địt mẹ, cho chết cha nó hết cái giống ngụy đi!!!” (Lữ Phương có thể điện thoại hỏi Bùi bình Thi (ở Hà-nội) và Đỗ Chu (Bắc-ninh) để biết “hư thực ra sao”). Nếu “ông phó chính ủy ngụy quân cộng sản ở miền Nam” không giáo dục quân lính cộng sản vào Nam lòng căm thù ngụy như thế thì “bố tiên sư mấy thằng nhóc lính ngụy cộng sản đó” đâu dám làm tàng mà “tuyên bố” như vậy, mà còn định “bắn” ngay chính 2 nhà văn ngụy quân cộng sản của chúng, chỉ vì muốn chúng chí ít cũng “thử làm người một lần”.

Đường lối giáo dục của “chủ nghĩa Hồ chí Minh” của mấy cây bút “chống đối” là như vậy.

Còn đường lối thương nghiệp của “chủ nghĩa Hồ chí Minh” như mấy cây bút “chống đối” hư cấu thì như thế nào?

Hồ ví von rằng “cán bộ thương nghiệp và mậu dịch viên là nàng dâu trăm họ”. Nói kiểu đó, từ mồm Hồ mà ra, thì muốn hiểu sao cũng được. Tốt nhất là đưa thí dụ cụ thể cùng cách giải quyết của Hồ.

Câu chuyện Hồ “hóa trang” ra chợ Đồng-xuân (Hà-nội) mua 150gr tem tiêu chuẩn thịt của người già, nhưng “mậu dịch viên” của ngụy quyền Hồ chí Minh, đã ném một cục xương cho Hồ, như đã nêu ở trên, mà Hồ cũng lờ đi. Cho nên “mậu dịch viên”, theo chính sách “nắm chặt bao tử của dân” của Hồ, trở thành “đại diện thường trực” của Hồ để uốn nắn giáo dục người dân trở thành ngoan ngoãn chấp nhận mọi điều phi lý, mọi sự sỉ nhục, mọi hành hạ y như con thú trong giờ được huấn luyện.

Hà-nội, thuở Hồ còn ngự trị, là nơi duy nhất, có nghĩa là duy nhất cho cả miền Bắc XHCN của Hồ, là có bán bánh “Su-kem” ở cửa hàng Bô-đê-ga, ở phố Tràng-tiền. Người mua phải xếp hàng (cũng được); mỗi người chỉ được mua một cái (cũng được); nhưng “mậu dịch viên” bắt khách hàng phải ăn tại chỗ hoặc nếu muốn mang về thì chí ít phải cắn ăn tại chỗ một miếng đã rồi mới được mang chỗ còn thừa về nhà. Vô lý đến như vậy mà mọi người vẫn phải chấp nhận. Khi biết chuyện này, Hồ cho gọi Hoàng quốc Thình, lúc đó y giữ chức bộ trưởng nội thương của ngụy quyền, và hỏi hư thực ra sao. Thình xác nhận là có chuyện đó, vậy mà Hồ khen: “Nhân dân chịu khó xếp hàng mua bánh ăn như vậy chứng tỏ đời sống có tiến bộ”!!! Hoàng quốc Thình khoái quá, khoe với mọi người về chuyện này. ở cỡ “bộ trưởng” mà óc bã đậu như vậy. Hoàng quốc Thình đâu biết âm mưu của Hồ là dùng mọi biện pháp, trong đó có thương nghiệp, để huấn luyện toàn dân miền Bắc thành người gỗ, không biết phản ứng trước mọi sự phi lý; không biết liêm sỉ khi nhân phẩm bị chà đạp. Nên Hồ “rất hài lòng” về câu chuyện cách bán bánh ở cửa hàng Bô-đê-ga (Hà-nội). Nó giúp Hồ kiểm chứng hiệu quả “trồng người” của Hồ!

Trong tay Hồ nhào nặn, ngay cái gọi là “trí thức XHCN” cũng thoái hóa, bệ rạc. Thí dụ như bác sỹ Trần duy Hưng, nhờ hết lòng thờ phụng, tôn kính Hồ nên được Hồ chọn cho làm chủ tịch Hà-nội cho cân đối với bác sỹ Trần văn Lai thời chính phủ Trần Trọng Kim. ở cương vị “chủ tịch Hà-nội”, ngày nào bác sỹ Trần duy Hưng cũng được nhiều nơi mời đi tiệc tùng hiếu hỷ. Tất nhiên bác sỹ Trần duy Hưng đâu biết phép “phân thân” như “Tề thiên đại thánh”, nên chỉ có thể dự được ở một nơi. Khi chưa theo Hồ chắc chắn bác sỹ Trần duy Hưng nhớ làm lòng câu dạy của ông cha chúng ta rằng: “Miếng ăn là miếng nhục”. Nhưng khi thành đảng viên mafia đỏ và là kẻ tôn thờ Hồ thì với bác sỹ Trần duy Hưng, miếng ăn không như ông cha chúng ta dạy bảo, nên bác Sỹ Trần duy Hưng để vợ đến tất cả đám tiệc, mà bác sỹ Trần duy Hưng không đến được, để lấy hết phần ăn của bác sỹ Trần duy Hưng mang về!!!

Trẻ em còn khờ khạo nên dễ bị Hồ nhào nặn đã đành. Ngay “trí thức thời Pháp” để lại như bác sỹ Trần duy Hưng mà Hồ uốn cũng dễ như chơi!

Xin đưa vài thí dụ nữa kẻo me-xừ Lữ Phương lại nói rằng đó là cá biệt.

Tạm điểm đến luật sư Phan Anh. Ông luật sư này đã từng được coi là cấp tiến, đã từng là thành viên của chính phủ Trần Trọng Kim. Ông ta cũng từng lập ra “Phong trào thanh niên Phan Anh” (na ná như phong trào của Kỹ sư Kha vạng Cân ở trong Nam trước 1945 vậy). Và, cũng từng là bộ trưởng quốc phòng của Chính phủ Liên hiệp đa đảng (của những năm 1945-1951), bị Hồ đánh lừa qua hội nghị Fontainebleau ở Pháp nên để chiếc ghế bộ trưởng quốc phòng lại cho Giáp. Thời Tây, ông luật sư Phan Anh này đã từng cãi trong vụ án của ông “Hoàng minh Chính mà tiến sỹ Nguyễn thanh Giang của Hà-nội, mới đây có viết bài, khen tài cãi của ông Phan Anh khiến tòa án thực dân Pháp phải thua!(?)” (Không biết tiến sỹ Nguyễn thanh Giang có quá chủ quan không, chứ tài cãi của ông Phan Anh thuở đó không có nổi tiếng như các luật sư Nguyễn mạnh Tường, Trần văn Chương và ngay cả với luật sư Đỗ xuân Sảng). Ông ta là luật sư nhưng nổi tiếng về tổ chức các hoạt động thể dục thể thao. Còn tòa án thực dân Pháp thua trong vụ Hoàng minh Chính vì nó là công cụ của “thực dân xanh”, nên nó cũng biết tôn trọng “trò chơi pháp trị” chứ không dùng “luật chó sói của Lafontaine” như Hồ và “thực dân đỏ”! Cho nên Phạm Hùng, bị án tử hình, đang nằm chờ bị chém, được phái đoàn quốc hội Pháp qua, xét lại và cho hạ thành 9 năm tù (còn thua cha Nguyễn văn Lý mới đây bị án 15 năm tù thêm 5 năm quản thúc) thì làm gì có luật sư Phan Anh. (Xin đọc hồi ký “Hai lần án chém” của Phạm Hùng để có dịp so sánh “luật thực dân xanh” với “luật thực dân đỏ”!)

Luật sư Phan Anh dưới thời thực dân Pháp, dưới thời cụ Trần Trọng Kim cho đến một giai đoạn nhất định của Chính phủ Liên hiệp 1945-1951 (vì sau 1951, trên thực tế Chính phủ Liên hiệp đa đảng đã bị Hồ đảo chánh ngầm) thì oai phong, hào hùng như vậy. Khi vào tay Hồ, tuy được cho làm bộ trưởng ngoại thương nhưng thực quyền là ở trong tay Lý Ban và Nguyễn văn Đào. Cho nên luật sư bộ trưởng Phan Anh cũng… đói. Vợ con cũng thèm thịt. Vì thế mới dính vào chuyện của “anh chị xui” là phó thống đốc ngân hàng nhà nước trong vụ “ăn cắp tiền rách” để mua “giò chả” của Tân Việt hoặc của bà giáo Tích, và ăn bún thang bà Chưởng Đen ở chợ Đồng Xuân (Hà-nội)!

Thêm một thí dụ nữa về ông giáo sư bộ trưởng văn hóa Hoàng minh Giám. Hiên con trai ông ta đang là giám đốc sở thể dục thể thao Hà-nội.

Ông Hoàng minh Giám được Hồ cài vào đảng Xã hội, giữ chức phó tổng thư ký mà ông kỹ sư giám đốc nha khí tượng Nguyễn Xiển là tổng thư ký. Ông Hoàng minh Giám cũng là bộ trưởng bộ văn hóa, tiền nhiệm của Nguyễn văn Hiếu từ “bưng” sang Trung cộng làm “đại sứ” của “chính phủ phường chèo”, sau 1975 về thay ông Giám. Đi đúng con đường “giải phóng phụ nữ” của họ Hồ, nên mặc dù đã có vợ lai Pháp rất xinh đẹp, sau khi toa rập với Hồ, ông ta “dân tộc hóa hôn nhân” nên lấy thêm bà vợ hai là Việt 100%. Sau 1954, vào được Hà-nội, họ Hồ cho ra đời chế độ cung cấp đặc biệt cho “cán bộ” cao cấp của Hồ. Ông Hoàng minh Giám cũng được một thẻ cung cấp đặc biệt như mọi nhân viên cao cấp khác trong ngụy quyền Hồ chí Minh. Nhưng, khổ nhất là ở chữ “nhưng” này, vì ông ta hai vợ, ở hai vi-la: bà cả vi-la trước bệnh viện St. Paul; bà hai ở vi-la đường Tăng Bạt Hổ, liền tường bệnh viện bưu điện (sau bệnh viện bưu điện bị đuổi xuống khu Chợ Trời, chùa vua, để cho đại sứ Hà văn Lâu cư ngụ), cho nên ông ta phải đặt kế hoạch mỗi bà giữ thẻ cung cấp đặc biệt một tuần. Thành ra mỗi bà “một tuần no tiếp theo một tuần đói”. Chẳng biết “kẻ xấu” hay “phản động” nào xúi bà cả rằng ở cương vị vợ lớn việc gì phải chịu cảnh “ngang vai phải lứa” với bà hai. Lúc được xúi bậy như vậy thì tấm thẻ đang trong tay bà hai. Bà cả bèn đi thẳng tới bộ văn hóa (đường Ngô Quyền, Hà-nội) gặp ông Giám và nói rõ ý định của bà và yêu cầu trả lại thẻ cung cấp đặc biệt cho bà. Ông Giám sợ mất uy tín ở ngay văn phòng cơ quan, nên hứa lèo là chiều về nhà bà hai lấy rồi đem lại ngay. Chiều về ăn cơm với bà hai, ông Giám có dám mở miệng hay không thì còn là việc bí mật. Ăn cơm xong, ông Hoàng minh Giám tề chỉnh trong bộ đại cán 4 túi, màu xanh sẫm, ra xe hơi Volga màu vàng nhạt, đi chủ trì lễ khai mạc hội diễn chuyên nghiệp ở rạp Hồng-hà (tức rạp Olympia cũ ở phố Hàng Da). Vừa trong xe hơi bước ra, ông bị bà cả phục kích, xoắn cổ áo, thẳng tay cho một chưởng độ 5 thành công lực, khiến máu mũi tuôn ra. Bảo vệ vội giữ bà cả, để ông tháo chạy vào hậu đài.

Nghe chuyện này, Hồ cười cười. Và, hôm sau khi thư ký riêng của Phạm văn Đồng, kiêm vụ trưởng vụ tổng hợp phủ thủ tướng ngụy quyền Hà-nội, là Việt Phương, lên báo cáo tình hình như thường lệ, Hồ cho ý kiến rằng: “Đồng chí nào hai hoặc ba vợ thì từ nay mỗi vợ được riêng một thẻ cung cấp đặc biệt.” Thế là Trần huy Liệu cũng được hai thẻ, một cho bà vợ già khú đế và một cho bà hai cực xinh đẹp, nguyên là vợ Phạm Giao, con cả Phạm Quỳnh, do Trần huy Liệu giết chồng, cướp vợ. Khi Trần huy Liệu chết, bà vợ già nhất định đánh ghen trong ngày truy điệu. Cũng cái lệnh của Hồ là cho tổ chức truy điệu hai ngày: một cho bà cả chủ trì và một cho bà hai chủ trì. (Lữ Phương có thể hỏi ngay chính Trần văn Giàu về chuyện này xem để thấy việc lớn việc nhỏ đều qua tay Hồ, thì làm sao có chuyện Hồ bị “cho ra rìa”!)

Ngay những bậc gọi là loại “đại trí thức” như giáo sư thạc sỹ y khoa Hồ đắc Dzi, con rể tổng đốc Vi văn Định, anh em “cọc chèo” với tiến sỹ bộ trưởng giáo dục Nguyễn văn Huyên, là giám đốc trường đại học y khoa Hà-nội, tối tối hai vợ chồng cùng vợ chồng giáo sư bác sỹ Tôn thất Tùng (cháu rể Vi văn Định) ra tiệm phở “thím Liên Tàu” ở sân số nhà 34 Phan Chu Trinh ăn phở. Khi những tô phở nóng hổi vừa được bê ra, bà vợ giáo sư Hồ đắc Dzi cẩn thận moi trong xắc tay ra một lọ nhỏ. Đó là lọ “mì chính” (tức bột ngọt). Bà ta trịnh trọng chia cho mỗi tô phở một chút bột ngọt. Đó là của quý với dân thường Việt Nam, có lẽ như vụn kim cương vậy. Chỉ chút bột ngọt mang theo đó đủ là nhãn hiệu cầu chứng loại “cao cấp”, có khi giá trị hơn khệ nệ ôm theo cái bằng thạc sỹ. Nếu Lữ Phưong vẫn thấy chưa “thuyết phục”, xin điện thoại hỏi Hồ thể Lan, người phát ngôn của ngụy quyền Hà-nội, cũng là con gái thạc sỹ Hồ đắc Dzi xem có đúng 100% không! Hay hỏi giáo sư Tôn thất Bách cũng được.

Hai cập vợ chồng “đại trí thức” ấy được Hồ huấn luyện đến mức khư khư giữ lọ bột ngọt bằng ngón chân cái đó còn hơn giữ gia phả!!!

Hai vợ chồng Trần văn Giàu, tối nào chẳng “đi guốc gỗ” từ căn nhà góc đường Ngô Quyền – Hàm Long, đến “phở thím Liên Tàu” cùng ăn với Phạm ngọc Thạch, bộ trưởng y tế. Còn luật sư Nguyễn thành Vĩnh, từng là chủ tịch Mặt trận Liên Việt Nam bộ, thì gầy như bộ xương cách trí, mặc chiếc quần thâm của vợ, bê cái tô ra, cũng tiệm phở đó, mua về cho vợ con. Còn bản thân ông ta nhịn để giữ eo (mặc dù cân nặng độ 40kg)! Ông Vĩnh ở căn gác liền tường với khách sạn Hoàn Kiếm, là nơi cư ngụ của cái chính phủ phường chèo ở bưng, nhưng từ cấp thứ trưởng như Lữ Phương thì chưa đủ tiêu chuẩn ở chỗ đó, nên không có dịp như các ông, bà Trương như Tảng, Dương quỳnh Hoa, Trần bửu Kiếm v.v… để tận mắt thấy ông Vĩnh mặc quần của vợ thải ra với áo may-ô màu nước phở đi mua phở nhưng không dám ăn!

Với người có thiện chí thì những thí dụ “người thật việc thật” như trên là tạm đủ. Còn với Lữ Phương chắc vẫn còn “để xem sao!”

Qua chuyện kể trên, có thể có câu hỏi: Vậy là đời sống “cán bộ” cao cấp của Hồ đâu có xa hoa?

Thưa rằng không phải thế.

Hồ tổ chức ra hai bộ phận cung cấp. Về phía ngụy quyền thì do bộ nội thương chịu trách nhiệm. Về phía “đảng” mafia đỏ thì văn phòng trung ương mafia đỏ chịu trách nhiệm. Cho nên dù là bộ trưởng mà “bạch vệ” (tức không phải đảng viên mafia đỏ) như kiểu Phan Anh, hay phó thủ tướng như cụ Phan kế Toại v.v… cũng như bộ trưởng mà chưa là thành viên trung ương mafia đỏ, thì do bộ nội thương cung cấp, thì không đến nỗi đói lắm nhưng cũng chẳng lấy gì làm no. Còn loại “cán bộ” của Hồ mà nằm trong trung ương mafia đỏ thì cái chế độ chính trị lúc đó Hồ gọi là “Việt Nam dân chủ cộng hòa” nhưng văn phòng trung ương mafia đỏ cung cấp cho thành viên trung ương mafia đỏ theo “cộng sản chủ nghĩa”, tức là “làm theo năng lực nhưng lại được hưởng theo nhu cầu”. Chỉ vì cái “miếng đỉnh chung” đó mà thằng nào, con nào cũng cố gắng làm “người học trò giỏi của Hồ” để được hưởng theo nhu cầu. Vì thế người Hà-nội, thuở Hồ chưa ngỏm, mới đùa câu của Hồ tiểu di cho đệ tử theo kiểu “sấm” rằng:

“Tiên thiên hạ chi ưu

Hậu thiên hạ chi lạc”

Chính là Hồ dặn khéo:

“Tiên thiên hạ chi ưu tiên

Hậu thiên hạ chi lạc hậu”

Cho nên Hồ chết mới xây lăng, ướp xác v.v… và toàn bộ những thằng kế nghiệp Hồ đều ăn ở, hưởng thụ ra sao kể cả con cháu của chúng, chắc Lữ Phương không thể nào giả bị bịnh tâm thần mà chối rằng: không biết!!!

ở trong nước hiện nay, có ngòi bút “chống đối” nhắc đến việc Hồ khi chết, gia sản chỉ có “vài bộ quần áo và sổ tiết kiệm chỉ có hơn 3 ngàn”!(?) Đúng là người ta cố tình giả ngây thơ như bà phó Đoan của Vũ Trọng Phụng trong “Số Đỏ” khi bị Xuân tóc đỏ bị hiếp!!!

Những chứng minh trên đã quá đủ, khỏi cần phân tích cái “mẹo vặt” này của Hồ nhằm vừa lòng cái loại như bà phó Đoan và cậu Phước trong “Số Đỏ” của Vũ Trọng Phụng.

Chỉ xin hỏi ngòi bút “chống đối” cho Hồ rằng:

– Từ ngày Hồ ngỏm, có ai dám vào ở cái “phủ chủ tịch” của Hồ và căn nhà gỗ, như ở các nước khác không?

– Từ ngày Hồ chết đã chi tiêu bao nhiêu thứ cho Hồ, thành tiên là bao nhiêu?

– Hơn ba ngàn trong sổ tiết kiệm của Hồ có đủ mua một đôi giày da cho một tên lính gác lăng không thôi?

Nếu không có cộng đồng người Việt ở hải ngoại tăng hiệu quả cho thì kiểu lý luận “cảm tính, lè phè” đó chắc chẳng ai biết đến. Trách nào lực lượng chủ lực là nông dân đâu có “nghe theo”!!!

Ngay Hoài Thanh, một bồi bút cung đình mafia đỏ, lương chính thiếu có “hai đồng” thì đạt tiêu chuẩn được cấp thẻ đặc biệt mua hàng ở cửa hàng Tôn Đản. Hoài Thanh bèn giả vờ đánh rơi nhật ký, trong đó ghi nỗi lòng lúc nào cũng muốn được “báo đáp công ơn bác và đảng đã cải tạo thành con người có lý tưởng”(?). Cuốn nhật ký của Hoài Thanh được trao cho công an và đến tay Tố Hữu. Hoài Thanh được Tố Hữu báo cho biết sẽ nâng lương (viện phó viện văn học) cho đạt tiêu chuẩn được mua hàng ở Tôn Đản. Hoài Thanh mừng quá, vội tổ chức cuộc bình thơ Tố Hữu. Chẳng biết “ma ám” hay “thiên bất dung gian” mà trong lúc cao hứng, Hoài Thanh lại lỡ mồm: “Anh (tức Tố Hữu) vốn sinh ra từ một nơi “sông không sâu, núi không cao” nên thơ anh hiền hòa. Thế là có kẻ ném đá giấu tay, viết thư nặc danh gửi cho Tố Hữu, kể nguyên văn buổi bình thơ, chỉ có chút nhận xét riêng. Đại ý: “Đồng chí Hoài Thanh tuy khen thơ của đồng chí “tức Tố Hữu” hết lời nhưng cái câu “sông không sâu, núi không cao” hình như bỏ lửng như vậy để mọi người nên cảnh giác đồng chí”, vì nếu nói đầy đủ thì sẽ là:

“Sơn bất cao,

Thủy bất thâm,

Nam đa trá!

Nữ đa dâm!”

Đòn “ném đá” thật hữu hiệu. Mấy ngày sau có quyết định nâng lương cho một số cán bộ ở Viện văn học. Vũ đức Phúc, cũng là viện phó, được nâng cho đủ tiêu chuẩn vào mua hàng ở Tôn Đản. Còn Hoài Thanh thì “chơớc quơớc”!

Thuở đó dân gian có câu:

“Tôn Đản là chợ vua quan

Vân Hồ là chợ trung gian, nịnh thần

Bắc Qua là chợ nhân dân

Hàng Bè là chợ công nhân anh hùng.”

Trong tay họ Hồ, đến lãng mạn như Xuân Diệu cũng trở thành “thực dụng tàn bạo”. Mỗi lần Xuân Diệu đi cơ sở bình thơ theo “quỹ văn hóa quần chúng” của cơ sở, đều đặt yêu cầu với ban tổ chức rất cụ thể:

– Ngày ăn mấy bữa. Thức ăn mỗi bữa ra sao.

– Không lấy tiền thù lao. Chỉ xin giúp đỡ cái này, cái nọ tính ra gấp chục lần tiêu chuẩn thù lao.

(Chuyện về Hoài Thanh, Xuân Diệu – Lữ Phương có thể điện ra cho nhà thơ trào phúng Yên Thao, ở Hà-nội, để biết hư thực. Còn dân gian nói về các chợ, có thể hỏi phu nhân tướng Trần Độ, vì xưa kia bà ấy là Cửa hàng trưởng cửa hàng Vân Hồ (Hà-nội).)

Còn nhà trí thức Huỳnh văn Tiểng, từ khi theo Hồ thì bỏ luôn đặc tính hào phóng của “dân Nam-kỳ”, để ăn cơm với vợ, ăn bữa nào trả tiền bữa ấy rất chi là sòng phẳng. Chuyện này do nhà thơ Trinh Đường và nhà triết học Trường Lưu ở chung nhà với vợ chồng Huỳnh văn Tiểng kể lại, chí ít cũng vài trăm người biết. Lữ Phương cũng có thể kiểm chứng.

Riêng vợ chồng Phạm văn Bạch, một đại phú của miền Nam, nên hồi 1945, Hoàng quốc Việt theo lệnh Hồ vào Sài-gòn để “giảm” uy thế của nhóm Trần văn Giàu và Dương bạch Mai, đã “tiến cử” Phạm văn Bạch vào ghế chủ tịch Nam-bộ. Sau 1954, Phạm văn Bạch ra Hà-nội ngụ tại vi-la ở ngõ Trần Hưng Đạo, đối diện cổng sở công an Hà-nội. Hai vợ chồng Phạm văn Bạch nuôi một bà già để hầu hạ. Gốc đại phú ở Nam-bộ; lại giữ ghế Chánh án Tòa án tối cao ngụy quyền Hồ chí Minh; lại đi theo con đường “giải phóng nô lệ” của Hồ, ấy thế mà mỗi lần bà già người làm lỡ tay làm vỡ cái chén ăn cơm là phải để cho vợ Phạm văn Bạch nhéo thâm tím khắp người. Nhiều lần bà già này chạy sang sở công an trình báo nhưng “công an bạn dân” khuyên bà nên nhẫn nhịn, coi đây là phục vụ “tổ cuốc”, dù sao cũng không đau khổ hay bị chết như ra chiến trường!!! Một đại phú, lại có học và gốc Nam-bộ mà vào bàn tay Hồ nhào nặn cũng thành biển lận trội hơn nhân vật trong kịch của Molière hay tiểu thuyết của Balzac!

Những tầng lớp trên và có học trong xã hội của Hồ kiến tạo là như vậy, thì tầng lớp dưới, đã ít học lại lúc nào cũng đói đến mức sang thời nhà văn Nguyễn huy Thiệp nổi danh rồi mà cái xã hội đó vẫn làm một người như Nguyễn huy Thiệp đói (trả lời phỏng vấn của báo Libération) cho nên phép lạ xuất hiện.

Những năm gần đây, nhiều thước phim, quay lại cảnh chiến tranh ở Việt Nam, được chiếu trên màn ảnh truyền hình. Một cảnh vừa đau lòng vừa hài hước là cảnh ngụy quân cộng sản Hà-nội đặt gót xâm lược vào Sài-gòn, ngày 30-4-1975. Bên cạnh những tên lính mặt non choẹt, gầy gò; những người dân bồng bế con cái khóc than; xác người xác xe đầy đường thì Lê đức Thọ, Văn tiến Dũng, Võ nguyên Giáp mặt mũi béo tốt, ngoác miệng ôm nhau cười, lộ rõ những chiếc răng trắng hếu và cái cổ họng đỏ lòm! Chúng cười trên nước mắt, trên xác chết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Chúng cười vì dưới tài nhào nặn của Hồ, những thanh niên nam nữ miền Bắc Việt Nam, bị đói thường trực, đã thành con thú lao vào máu thịt như điên như rồ!

Chúng cười vì chúng nghĩ rằng chúng là kẻ thắng!

Nhưng, phép lạ đã xuất hiện.

Bao năm bị nhồi nhét những luận điệu tuyên truyền theo kiểu “tô hồng, bôi đen” hiện thực của ngụy quyền Hồ chí Minh, đến mức những đệ tử chóp bu của Hồ như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Võ nguyên Giáp, Lê đức Thọ, Văn tiến Dũng, Tố Hữu cũng tin ở những lời nói láo do chính chúng đồng lõa với Hồ bịa đặt ra.

Bọn chúng cùng với lũ ngụy quân cộng sản và tụi ở bưng nhào về thành thị, không đứa nào dám nói với đứa nào, nhưng chúng cùng có chung một tâm lý của những hồn ma bị giam ở ngục tối âm-ty, bỗng một phút ngả vào thiên đường.

Lũ ngụy cộng sản đầu tiên vào được dinh Độc-lập đã biểu diễn động tác của các “anh bộ đội cụ Hồ” bằng chui vào xe tăng bê các thúng gạo dự trữ ra đổ đi, tranh nhau thúng mủng để vào dinh Độc-lập xúc từng thúng “quẹt gas” và “transistor” có khắc các chữ “Tổng thống Nguyễn văn Thiệu thân tặng”. Khi chia “quả thực” đã xong, bọn chúng thản nhiên tắm và vo gạo ở bồn nước trước dinh để nấu cơm. Củi thì “tạm” hạ một vài cửa sổ xuống, chẻ ra để đun. Lữ Phương thử “khách quan” nhận xét xem những hành động của “anh bộ đội cụ Hồ” như vậy là “anh hùng giải phóng” hay là của một bầy lính man rợ, lạc hậu trong đội quân xâm lược? Sau này, Bùi Tín cũng như Nguyễn trần Thiết, viết bài tranh công xem ai là kẻ nhận sự đầu hàng của Big Minh, nhưng chẳng ai dám trung thực viết lại những cảnh đó!!!

Sau khi cơm no bụng và kiểm tra lại số “quẹt gas” và “transistor” có đủ không hay bị đồng đội, đồng chí “thuổng” mất, bọn ngụy quân cộng sản chia nhau lục soát hết dinh Độc-lập, không phải để “tìm địch” mà để tìm xem những gì có thể cướp được. Thôi thì từ dây dẫn điện, bóng đèn điện, màn che cửa, bọc nệm ghế v.v… đều bị cắt ra chia nhau. Vì thế, chỉ một ngày sau, tức 1-5-1975, các đầu nậu mafia đỏ từ Hà-nội bay vào tổ chức mít-tinh, dây điện bị ngụy quân cộng sản lấy hết nên Lê đức Thọ phải một tay chỉ cho Tôn đức Thắng “đánh vần” diễn văn, một tay cầm quạt nhè nhẹ quạt cho Tôn đức Thắng đỡ rôm sẩy! Còn Trường Chinh, lóa mắt trước sự giàu đẹp của miền Nam, vội vàng tuyên bố: “Miền Nam phải tiến ngay lên chủ nghĩa xã hội.” Đó là tiếng lóng của tụi mafia đỏ Hà-nội mà nghĩa đen là: “Phải cướp hết tài sản của nhân dân miền Nam; phải bỏ tù không xét xử mọi thành phần không thích hợp với chế độ mafia đỏ; phải đuổi dân thành phố, thị xã đi lưu đày ở nơi hoang hóa; phải tăng cường các nhà tù để bóc lột lao động; và cái ý nghĩa quan trọng nữa là: “Dẹp ngay các đoàn tuồng, chèo chính trị”, trong đó có cái chính phủ phường chèo mà Lữ Phương từng vinh dự được đóng vai phụ (tức thứ trưởng)!

Còn Lê Duẩn, thận trọng hơn Trường Chinh, vội vã đi thăm các nhà công thương nổi tiếng của miền Nam để ve vuốt, vì sợ họ dzọt mất. Cho nên Duẩn mới chụp ảnh chung với ông Nguyễn thành Nam, chủ hãng National, và tuyên bố “duy trì 5 thành phần kinh tế”. Một số nhà công thương miền Nam, không hiểu ngôn ngữ của mafia đỏ Hà-nội nên bị lừa trắng mắt. Vì, Duẩn nói là duy trì 5 thành phần kinh tế để chờ sát thủ thân tín của Hồ là Đỗ Mười vào, sẽ làm một quả “thiến nhanh”, “thiến mạnh”, “thiến trọn vẹn” những ai có tới một chỉ vàng. Thế là đổi tiền, thế là chiến dịch X1 và X2. Thế là tổ chức cho quân, dân, cán, chính của miền Nam đóng tiền học 10 ngày. Và sau 10 ngày không phải đóng tiền vì không học nữa mà là đi tù. Quả lừa đó là thành tích của Cao đăng Chiếm được Lê Duẩn khen và chuẩn y. Còn Trần quốc Hoàn (bộ trưởng công an), phải chờ sau vụ “vàng và hạt xoàn” trong nhà gián điệp ba Tàu cộng mới đẻ ra cái trò “kim loại màu vàng và đá quý” để cướp không vàng thật và hạt xoàn của nhân dân miền Nam!

Mọi sinh hoạt ở miền Bắc chỉ còn thoi thóp, vì không chỉ dân miền Nam tập kết ra Bắc, mà “thủ trưởng” lớn nhỏ của các cơ quan, cán bộ, công nhân viên và dân thường đua nhau vào Nam để tìm cơ hội đổi đời. Nhất là sau vụ Hà-nội ồn lên về việc nhà mấy đại tá ngụy quân cộng sản, ở khu tập thể Đống-đa, bị “an ninh quân đội” khám xét mà có nhà có hàng chục cái xe đạp, 4 ti-vi, hàng trăm đồng hồ, hàng thùng xi-líp ny-lông của nữ giới màu sắc chói chang, hàng chục ca-sét v.v…

Tiếp theo là các chợ trời đều tràn ngập hàng hóa từ miền Nam theo chân lũ quân xâm lược về thăm quê nhà. Ga-len và ngay cái đài bán dẫn Orionto của Hung; Xiang-mao của Trung cộng, từng là “hạnh phúc” và “niềm tự hào” của “dân, quân, cán, chính” của miền Bắc nay đều trở thành lạc hậu, chỉ thiếu điều bị vứt ra đống rác. Giờ là Sony, National, Aiwa, Hitachi v.v… Còn đồng hồ, tha hồ mà chọn, đủ cả “hai cửa sổ”, “ba cửa sổ” chẳng ai thèm ngó đến đồng hồ Poljot của Nga-xô mà mới trước đó vài tuần, riêng tiền mua cái phiếu thôi cũng trị giá bằng lương của “cán sự bậc 4”! (Tức 75 đồng tiền Hà-nội của năm 1975).

Các sứ quán Nga-xô, Trung cộng, Mông cổ, Bắc hàn, Algéria cũng đua nhau mang hàng va-ly tiền giấy của ngụy quyền Hà-nội vào Sài-gòn sắm các hàng điện tử đem về nước! Đặc biệt sứ quán Trung cộng, cả lũ lên cơn “Tô Định”, chỉ muốn vơ vét hết, nên bịa chuyện điện về Bắc-kinh xin cho một tàu thủy mang tên Hồng-kỳ vào Đà-nẳng vận chuyển giúp, nhưng kỳ thực là cướp các đồ điện tử, trong đó có dàn máy tính ở Đà-nẳng mang về Tàu lục địa.

Xin hỏi nhà lý luận Lữ Phương cũng như tướng Trần Độ (tự hào thành tích “giải phóng” miền Nam Việt Nam) rằng bản thân tụi dân, quân, cán, chính của ngụy quyền Hà-nội, cả lớn cả nhỏ đều vào Nam giết người cướp của lại còn rủ rê, cho phép đồng minh Nga-xô, Trung cộng, Bắc hàn cùng vào cướp bóc như vậy thì phải gọi là “giải phóng” hay “xâm lược”. Xin đừng loanh quanh mà hãy cố dũng cảm trung thực lấy một lần để trả lời rõ ràng là xâm lược hay giải phóng?(!)

Nhân sự trong ngành thương nghiệp của ngụy quyền Hà-nội khôn khéo kết hợp “cái chung” và “cái riêng” rất chi là Hồ chí Minh. Nghĩa là, chúng mang nắm giấy vụn của Hà-nội, được gọi là tiền, để mang vào Nam vơ vét không thiếu một thứ gì, từ cái xi-líp nữ cho đến các loại xe Falcon; Peugeot 404, 504; Mercedes; Toyota v.v… và xe gắn máy Honda, Suzuki v.v…; đồ điện tử; áo quần, mùng mền cho đến cả mì ăn liền, để bán ở cửa hàng cung cấp đặc biệt cho trung ương (cạnh nhà hàng Phú Gia, phố Hàng Trống, Hà-nội) với giá bằng một phần năm giá mua vào, nghĩa là bù lỗ!!! Ngay nhạc sỹ Đỗ Nhuận, với tư cách tổng thư ký hội nhạc (mafia đỏ) cũng lấy tiền quỹ của hội, vào Sài-gòn mua 5 cái đàn dương cầm nhãn Yamaha mang về Hà-nội, đem biếu con gái Lê Duẩn một cái; con gái Trường Chinh một cái; bản thân “mượn không thời hạn” một cái, còn nhạc sỹ cả hội dùng chung hai cái!!!

Các ngành, các bộ từ Hà-nội đua nhau vào giành giật nhà cửa, xe hơi, đồ đạc để làm cơ sở phía Nam và chuyển ra Bắc. Ngụy quyền Hà-nội lại còn bày trò cấp giấy phép vào Nam. Việc buôn bán giấy phép thật là nhộn nhịp ở câu lạc bộ Thống Nhất, ở cửa sau của ủy ban nhân dân thành phố Hà-nội; ở các văn phòng khu công an; ở văn phòng ủy ban thống nhất (đường Cao Bá Quát); ở văn phòng bộ giao thông vận tải và ở ga Hà-nội. Giá một giấy phép lên tới 300 đồng tiền Hà-nội lúc đó, nghĩa là hơn lương tháng của “chủ tịch nước”!!! Còn vé tàu liên vận và xe hơi “Bắc-Nam” thì chỉ có chợ đen với giá gấp 5 đến 10 lần giá chính thức. Rất nhiều cán bộ cơ quan, sỹ quan và lính ngụy cộng sản cũng như công an ngụy bỏ việc tìm đường vào Nam. Đây là điều chưa từng bao giờ xảy ra dưới chế độ mafia đỏ Hồ chí Minh ở miền Bắc Việt Nam cho đến ngày 30-4-1975! Nghĩa là người ta không sợ sợi dây cột bao tử của chế độ nữa.

Nếu tập đoàn Lê Duẩn phấn khởi về cái gọi là “mùa xuân đại thắng” bao nhiêu thì người dân thường, kể cả cán bộ, công nhân (giai cấp tiên phong) lại tỏ ra thất vọng cứ như chính họ bị thất bại. Điển hình là ở công trường Đập sông Đáy ở Hà-tây.

Tại công trường Đập sông Đáy lúc nào cũng có hàng vạn người lao động. Đó là công nhân xây dựng chuyên nghiệp của các công ty Thủy lợi; lao động là nông dân bị đi sưu; lao động là học sinh, sinh viên, xã viên hợp tác xã tiểu thủ công và cán bộ, công nhân viên bị đi theo “nghĩa vụ lao động” (3 tháng/năm).

Tin Big Minh đầu hàng và “chiến dịch Hồ chí Minh” (tức xâm lăng miền Nam) thắng lợi hoàn toàn được đài phát thanh truyền tới hệ thống loa của công trường. Cả rừng người trên công trường, im như thóc, nghe đài. Sau bản tin chiến thắng là bài hát của Phạm Tuyên “như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” ông ổng sủa lên. Rừng người vẫn im lặng, và như một mệnh lệnh từ một đấng vô hình, tất cả chẳng ai bảo ai, tự động bỏ việc đi về lán, lủi thủi như người mất hồn.

Vài tiếng đồng hồ sau, ban chỉ huy công trường phải gọi loa tập hợp lao động toàn công trường để mít-tinh chào mừng “chiến thắng”. Mọi người đến chỗ tụ họp cứ như đi đưa ma, chỉ có tiếng muỗi đêm bay vo vo. Đại diện ban chỉ huy công trường đọc lại “tin chiến thắng”, rồi đọc quyết tâm thư của toàn công trường gửi lên “trung ương đảng và chính phủ”. Như mọi lần là cả công trường vỗ tay như sấm rồi hát hò hoan hỉ. Nhưng lần này, chẳng một ai vỗ tay, kể cả thành viên “đoàn chủ tịch” cuộc mít-tinh. Quản ca của công trường bắt nhịp hát bài “giải phóng miền Nam”, cũng chỉ có mình hắn hát. Tất cả tự động giải tán về lán.

“Sài-gòn thất thủ” như tiếng sét, khiến mọi người bàng hoàng quên hẳn vai kịch hằng ngày để sống đúng với con người thật.

Kẻ viết những dòng này có mặt ở công trường Đập sông Đáy đúng hôm đó, theo lời mời của giám đốc công ty Thủy lợi số 3. Dự mít-tinh xong vội ra về cùng giám đốc công ty và phóng viên báo Nhân dân là Vũ Hạnh. Khi đi qua lán, nghe nam nữ công nhân đang chua chát chửi:

– Đ… mẹ tụi miền Nam sướng quá hóa quẩn. Hàng triệu quân mà đánh đấm như vậy. Làm tướng và tổng thống gì mà hèn thế, không dám bắn một phát vào đầu tự tử cho con cháu sau này được hãnh diện mà đầu hàng một cách hèn hạ như vậy!

– Mình cứ tưởng miền Nam sẽ ra giải phóng cho kiếp trâu chó của chúng mình, nào ngờ, đù mẹ nó, thế là hết hy vọng! Để cho bọn chúng được nếm mùi “xã hội chủ nghĩa” rồi mới hết phản chiến với du ca. Đ… mẹ cái thằng Trịnh công Sơn!

– Bọn mấy cái mặt trận dân tộc với liên minh rồi sẽ hết cả tộc với liên. Thân phận bọn Trịnh đình Thảo chưa chắc đã được như Nghiêm xuân Yêm, Đỗ xuân Sảng.

– Ông mà gặp mấy thằng nhạc sỹ làm bài hát phản chiến thì ông nhét cà vào mồm nó.

– Đ… mẹ nó lại làm bài hát ca ngợi “đảng” và “bác” xin đầu quân “ông Lành” (tức Tố Hữu) thì có khi nó cho mày bú cà nó đấy!

(Có thể còn được nghe giai cấp công nhân “thổ lộ” nhiều bí mật nữa. Nhưng, giám đốc công ty Thủy lợi số 3 “sợ” quá nên cứ thúc ra xe về Hà-nội.)

Nghe những “nỗi lòng” nêu trên của “giai cấp chính thống công nhân của miền Bắc XHCN” từ cái thuở 1975 đó mới càng thấm thía trước cảnh lũ khóc mướn cho Trịnh công Sơn ở hải ngoại. Đúng là “ăn cơm “tự do” thờ gia nô cộng sản”.

Sau này, tập đoàn cộng sản Việt gian đã làm một sự sai lầm không thể cứu vãn. Đó là chúng đưa các quân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hòa ra các trại tù ngoài Bắc. Thế là ngay cả những người dân miền Bắc, quá nghèo khổ, không dám và không thể vào thăm miền Nam được, đột nhiên được biết miền Nam qua những con người bằng xương bằng thịt bị tù đày đó và thân nhân của họ từ miền Nam ra thăm nuôi. So sánh với hình ảnh của con người miền Bắc bị hơn 20 năm trong tay tập đoàn sát nhân Hồ chí Minh, dù mù cũng thấy đâu là người đâu là thú. Và, công trình tẩy não, xuyên tạc của tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh bị sụp đổ như lầu đài cát. Tất cả các vị quân, dân, chính của Việt Nam Cộng Hòa bị đưa ra nằm tù ngoài Bắc đều là nhân chứng về chuyện này. Khi ra Bắc thì bị ném đá. Khi trở về Nam thì bị ném bằng thuốc lá, bánh chưng! Lữ Phương và những “đồng chí” của Lữ Phương có thể kiểm chứng dễ dàng. Đó là sự thức tỉnh để những năm 1978 trở đi, nhiều người miền Bắc đã đoạn tuyệt với cái bánh vẽ vĩ đại của tên phù thủy Hồ chí Minh, tình nguyện đến xứ sở của đế quốc Mỹ và đồng bọn “xin được bị bóc lột”, vì quá sợ cảnh làm chủ nhân của thiên đường XHCN, dù biết rằng ba người ra đi chắc chắn một người sẽ làm mồi cho cá biển Đông!!! Nghĩa là, ngay dân miền Bắc XHCN, thì sau 30-4-1975, chợt tỉnh cơn mộng du trên đường lầy do Hồ Việt gian lựa chọn, và họ thà chết còn hơn tiếp tục đi con đường lầy của họ Hồ, dù có người đã u mê trên con đường đó một phần tư thế kỷ!

Những người miền Bắc XHCN được dịp vào phần đất của Việt Nam Cộng Hòa, ngay cả những người nhiều đời ở cái đất Hà-nội phồn hoa của thuở trước 1954, đều ngỡ ngàng cứ như “chim chích lạc rừng”. Tại Sài-gòn, hàng hóa chất cao như núi suốt từ phố Lê Lợi qua Trần Hưng Đạo vào tận Chợ-lớn, chưa kể các nơi khác. Người bán “lễ phép” đến mức nhiều người Bắc “phát hoảng” vì đã bao năm ở ngoài Bắc, chỉ có cảnh người mua phải nịnh và lễ phép với người bán.

Sách báo của Sài-gòn bán ra cũng nhiều. Đâu đâu cũng có, nhất là ở “passage” của cao ốc Eden. Có thể mua cả các sách Mác-xít thoải mái, đủ loại. Và, tác giả công khai thích Mác, không chỉ là ngoại quốc mà ngay chính nhà trí thức nổi tiếng là giáo sư Nguyễn văn Trung, từng dạy ở trường Võ-bị Đà-lạt!!! Cả thơ của Paul Eluard, cả A. Gide bên cạch I-li-a E-ren-bua, Gô-gôn. Và Verlain bên cạnh Pút-xkin v.v… Nghĩa là ở xã hội Việt Nam Cộng Hòa tha hồ độc giả đỏ, xanh, trắng và cả mọi loại Serie noire đều được hết. Chỉ sợ không có thì giờ đọc, không đủ tiền mua.

(Xin mời đọc tiếp bài chót)

http://sutichconyeurauxanhovietnamhochiminh.blogspot.com/

Sự tích: Con yêu râu xanh ở Việt Nam – Hồ Chí Minh 16/18

Sự tích:

Con yêu râu xanh ở Việt Nam

* * * * *

Việt Thường

Bài 16

Nên nhớ rằng cái năm 1958 đó, Hồ là chủ tịch đảng mafia đỏ, kiêm chủ tịch nước, kiêm chủ tịch hội đồng quốc phòng. Còn Lê Duẩn mới chỉ là bí thư thứ nhất do Hồ tạm chỉ định để giúp việc cho Hồ. Phải đến tận năm 1960, tại đại hội 3 mafia đỏ, Lê Duẩn mới được thực thụ là bí thư thứ nhất, chứ không phải như hầu hết những người “ly khai” hay “chống đối” nâng Lê Duẩn lên là “tổng bí thư”, để có thể thuyết phục người đọc về vị trí quan trọng uy thế của Duẩn cho phù hợp với cốt truyện “hư cấu” rằng Lê Duẩn khống chế Hồ.

Cũng năm 1958 đó, me-xừ Lê đức Thọ vẫn chỉ là ủy viên trung ương mafia đỏ mà thôi. Phải đến đại hội 3 mafia đỏ (1960), Thọ mới được vào chính trị bộ. Có thể tra cứu lại báo Nhân dân những năm đó để biết danh xưng của Duẩn, Thọ cũng như của Hồ và Đồng xem “hư thực ra sao”!

Với cương vị như thế (vừa là ủy viên chính trị bộ kiêm thủ tướng ngụy quyền) thử hỏi Phạm văn Đồng tuân lệnh Hồ hay tuân lệnh Duẩn và Thọ?(!!!)

Việc đề cao Hồ và bịa chuyện Hồ bị cho ra rìa có mục đích đen tối rõ ràng nhằm bao che:

1- Hồ vô tội trong cuộc vũ trang xâm lược miền Nam Việt Nam (căn cứ nghị quyết 15 (khóa 2 mafia đỏ) tháng 1-1959).

2- Hồ vô tội trong việc dâng Hoàng-sa và Trường-sa cho Trung cộng (sự việc xảy ra vào năm 1958).

Hơn nửa thế kỷ qua, đa số nhân dân Việt Nam nói chung, nông dân Việt Nam nói riêng, bị “liên quan” với cái tổ chức “cộng sản Việt gian” của Hồ không kiểu này thì kiểu nọ; không ít thì nhiều (nhất là phía Bắc Việt Nam), dây mơ rễ muống, nên y hệt như cảnh cái u ở người “để thì buồn cắt thì đau”. Chính vì biết chỗ yếu – cái gót chân Achille – đó của người dân, nên tụi đầu nậu mafria đỏ cố tình khai thác tận cùng sự mơ hồ của người dân về con người thật của Hồ và hắn mới là tội phạm chủ chốt, để đặt ra những “huyền thoại về Hồ” nhằm níu kéo người dân không đủ sáng suốt và bình tĩnh đoạn tuyệt với quá khứ, cắt bỏ mọi liên quan với Hồ và tổ chức cộng sản Việt gian của hắn.

Cho nên cần khẳng định rằng bất kỳ ngòi bút nào dựng ra huyền thoại về Hồ đều có tội đồng lõa, bao che cho tập đoàn cộng sản Việt Nam mà tên đầu sỏ là Hồ chí Minh.

Thử giả dụ như tin thời sự hiện nay, nếu có những ngòi bút nào đó phê phán không khoan nhượng những tên khủng bố Al-Qaida ở New York vừa qua, mà lại dựng ra “huyền thoại về Bin-Laden” rằng hắn “bị cho ra rìa”, hắn không biết gì cả thì chúng ta sẽ nghĩ sao về những ngòi bút đó?

Căn cốt Việt gian bán nước của Hồ có hệ thống từ trẻ đến chết. Cụ thể, tóm tắt như sau:

– Trước khi Hồ xuất ngoại, thế hệ của Hồ có biết bao thanh niên dấn thân cho việc nước. Nhưng Hồ tuyệt nhiên không tham gia một phong trào nào. Hắn chỉ ngoan ngoãn theo cha vào Huế, học ở Quốc-học Huế cho đến khi cha hắn bị cách quan vì giết dân lành vô tội thì hắn bị đuổi học. Thế là hắn vừa lần hồi kiếm sống vừa tìm đường vào Nam hy vọng qua Pháp học ở trường thuộc địa;

– Chân ướt chân ráo tới Pháp là Hồ vội làm đơn xin học ở trường thuộc địa để phục vụ “mẫu quốc Pháp”;

– Khi thấy quốc tế 3 chủ trương giúp các nước thuộc địa, thế là hắn theo luôn, bỏ ngoài tai những lời khuyên của các bậc tiền bối đã cưu mang, dạy bảo, nâng đỡ hắn là các cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền;

– Được Nga-xô thu nhận, đưa về Đông-nam-á hoạt động, Hồ liền bán cụ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp, lấy tiền xài sang và để tổ chức “hội Việt gian” phục vụ cho mẫu quốc đỏ Nga-xô;

– Hồ bán đứng cuộc khởi nghĩa của cụ Nguyễn Thái Học cho mật thám Pháp;

– Hồ bán các thanh niên yêu nước tìm đường ra nước ngoài lập tổ chức để chống Pháp, kể cả bán gia đình, thân nhân và bạn bè của họ. (Báo cáo của Hà huy Tập gửi quốc tế 3, ngày 20-4-1935);

– Khi tiếm được quyền lãnh đạo của cái gọi là “đảng cộng sản Đông-dương”, Hồ đã thanh lọc, giết những người gia nhập “cộng sản” xuất phát từ lòng yêu nước nhưng còn nhận xét ấu trĩ về sự lựa chọn đường lối chính trị, để biến cái tổ chức “cộng sản” đó hoàn toàn thành một tổ chức Việt gian, công cụ bành trướng của chủ nghĩa thực dân đỏ;

– Hồ đã đề ra đường lối và tổ chức thực hiện những âm mưu đảo chính Chính phủ Liên hiệp, vô hiệu tiến tới thủ tiêu Quốc hội khoá 1 và xé bỏ hiến pháp 1946;

– Hồ đã hoạch định đường lối, bố trí nhân sự để thực thi cái gọi là: “Trí, phú, địa, hào. Đào tận gốc, trốc tận rễ”.

Nhằm tiêu diệt những cá nhân, những tổ chức yêu nước của nhân dân Việt Nam. Lũng đoạn và làm thoái hóa các hội đoàn tôn giáo. Giết hàng chục ngàn các chức sắc và các tín đồ tôn giáo. Cướp bóc tài sản không chỉ của dân mà của cả các hội đoàn tôn giáo. Phá bỏ truyền thống tốt đẹp của Việt Nam, phá bỏ bản sắc Việt Nam, giết các sắc dân thiểu số. Tất cả nhằm bần cùng hóa toàn dân, biến toàn dân thành nô lệ kiểu mới, chà đạp nhân quyền, nhục mạ nhân phẩm của người dân. Hỗn láo và coi thường các anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa Việt Nam. Bán rẻ xương máu, tài nguyên, đất đai, sông biển của Việt Nam cho ngoại bang nhằm xây dựng chủ nghĩa thực dân đỏ ở Việt Nam (núp dưới mỹ tự CNXH), thực hiện chiến lược bành trướng của chủ nghĩa thực dân đỏ Nga-xô;

– Giáo dục và đào tạo những thế hệ Việt Nam chỉ biết phá hoại, hận thù, đố kỵ, sống bất nhân, bất nghĩa, bỉ ổi không bằng dã thú;

– Hồ là nguyên nhân gây ra cuộc tỵ nạn khổng lồ năm 1954; hơn một triệu người miền Bắc Việt Nam trong tổng số 16 triệu đã ồ ạt bỏ mồ mả tổ tiên từ bao đời, nhà cửa, ruộng vườn v.v… để chạy vào Nam. Nếu không có các khó khăn do vận chuyển, do khủng bố của Hồ thì số chạy nạn sẽ còn nhiều gấp bội;

– Cũng do Hồ phát động vũ trang xâm lược miền Nam Việt Nam, khiến cho cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam hao phí tài nguyên, nhân lực, máu xương; đất nước và nhân dân Việt Nam là nơi thí nghiệm vũ khí, là nơi các siêu cường Nga, Mỹ, Tàu mà cả mua bán trên máu xương, đau khổ, tang tóc của Việt Nam; ba thế hệ Việt Nam không biết đến hạnh phúc; lãng phí thời gian dùng vào chiến tranh phá hoại. Tất cả chỉ vì Hồ trung thành thực thi chiến lược toàn cầu của mẫu quốc đỏ;

– Cũng vì Hồ mưu đồ vũ trang xâm lược miền Nam Việt Nam, thực thi lịch trình bành trướng của chủ nghĩa thực dân đỏ nên đã phải dâng đất dâng biển cho Trung cộng, khơi dậy lòng tham bá quyền bành trướng có từ ngàn năm của giặc phương Bắc, nay là Trung cộng. Đó là mẫu mực cho bè lũ Lê đức Anh, Đỗ Mười, Võ văn Kiệt, Trần đức Lương, Lê khả Phiêu, Nông đức Mạnh, Phan văn Khải, Nguyễn văn An và tập đoàn Việt gian cộng sản, ngụy quyền Hà-nội hiện nay noi theo;

– Cũng từ Hồ mà sự kỳ thị Bắc-Nam xuất hiện và phát triển không ngừng, gây hậu quả tiêu cực trên mọi bình diện văn hóa, kinh tế, xã hội của Việt Nam. Và, cũng lần đầu tiên lịch sử Việt Nam phải chứng kiến cảnh liều mạng ra đi của nhiều triệu người Việt Nam để tỵ nạn cộng sản mà chí ít cũng gần nửa triệu người phải bỏ mình dưới biển Đông. Và, Việt Nam cho đến năm 2002 này vẫn áp chót trên thế giới, điển hình về nghèo đói, tội phạm, đĩ điếm, không tự do, không hạnh phúc và nhân phẩm bị chà đạp bởi một thể chế chính trị độc tài, công an trị mà lịch sử Việt Nam chưa bao giờ xuất hiện và tồn tại cho đến khi có Hồ và cái tập đoàn Việt gian cộng sản của hắn;

– Cũng từ Hồ là kẻ hủy bộ tư pháp, bỏ khoa luật; cai trị bằng sắc lệnh, bằng lệnh miệng; bằng đàn áp khủng bố, phân chia đẳng cấp v.v… cho nên đã đẻ ra, phát triển thành bản chất chế độ là nạn cửa quyền, tham nhũng, ô dù, vô liêm sỉ, vụ lợi vị kỷ, lãng phí cả tài nguyên, con người, trí tuệ và v.v…

Chính lúc Hồ cầm quyền, chưa ai được biết chi, thu như thế nào. Tiền của nhân dân đã chi cho “đảng Việt gian” của Hồ như thế nào. Nghĩa là người dân đúng là “nô lệ”, chỉ biết lao động sản xuất hay chém giết theo sự điều động của Hồ và tập đoàn Việt gian cộng sản của hắn. Mọi sự chi, thu v.v…, nghĩa là việc chung của đất nước hoàn toàn không được biết và cũng không cho phép được biết!!!

Nhân sự được Hồ lựa chọn, sử dụng đều là lũ lưu manh, khát máu, đầu hàng, trộm cướp, đĩ điếm với một quá khứ không rõ ràng. Trọn vẹn bọn chúng là lủ lừa thầy phản bạn, bội tín, bất nhân bất nghĩa, vô luân như tạm điểm mặt một số bọn chúng đã nêu ở những phần trên.

Cho nên, sau ngày Hồ chết, người Hà-nội của đầu thập niên 70, được nghe một bài “thơ ghế đá” có tựa đề:

Đảng lợn dê

Lê Duẩn ba vợ, ba nhà

Mỗi người riêng ở một tòa khang trang

Vợ cả già xấu, tính ngang

Vợ ba trẻ đẹp, hai đàng ghen nhau

Vợ cả dứt tóc, đập đầu

Vợ ba gào khóc, hạt châu tràn trề

Người này gớm, kẻ kia ghê

Làm cho Lê Duẩn não nề xót xa

Nghĩ mình phương diện quốc gia

Chuyện này không khéo lọt ra bên ngoài

Còn gì uy tín của ngài

Trước dân khoe mẽ đức tài vẹn đôi

Luật hôn nhân để đâu rồi

Chồng một vợ một cho người thôi ư

Xét trong đảng của họ Trư

Trai thì thừa vợ, gái dư nhân tình,

Thọ, Đồng hai vợ đình huỳnh

Giáp, Dũng nhân tình nhân ngãi lăng nhăng

Xuân Thủy hết Bình lại Hằng

Trần Độ Thị Định nhập nhằng với nhau

Vợ Liêm rước Côn cổng sau

Bách lấy vợ trẻ bỏ mau vợ già

Trân chơi Gia Tường cả nhà

Lần con lần mẹ chẳng tha người nào

Danh Tuyên dê cụ làm sao

Gọi nhân viên vào hiếp giữa buya-rô

Đến như “đạo đức” họ Hồ

Thế mà hắn cũng dăm cô nhân tình

Cẩn, Thập, Mỹ nên hiển vinh

Cũng vì được hắn làm tình nhiều phen

Dê theo đường cũ đã quen

Từ trên xuống dưới lèm nhèm như nhau

Nói thì đạo đức cao sâu

Làm thì ra lũ đầu trâu mặt người

Nói thì cách mạng đổi đời

Làm thì đói khổ gấp mười thực dân!

Chết còn ướp xác, xây lăng

Lễ nghi bày đặt trăm phần xa hoa

Các vua phong kiến thua xa

Đổi đời “cách mạng” hóa là chủ nô

Lòi đuôi đầy tớ Nga-xô

Buôn xương, bán máu giặc Hồ gian manh

Tượng, bia rồi cũng tan tành

Miệng dân mới thực sử xanh ngàn đời

Lăng xây, xác ướp lỗi thời

Ngàn năm còn để cho đời cười chê

Đúng là đảng lũ lợn dê!!!

Tập đoàn Việt gian cộng sản và ngụy quyền mafia đỏ Hà-nội hiện nay đang bị tấn công tới tấp cả ở trong và ngoài nước. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại, cho dù bị “phê bình” là chia rẽ, nhưng vẫn là lực lượng trụ cột làm lay động chế độ mafia đỏ hiện nay ở Việt Nam.

Chính là nhờ cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà những nhân vật như Nguyễn chí Thiện, bác sỹ Nguyễn đan Quế, Đoàn viết Hoạt, Dương thu Hương, Bùi minh Quốc, Bảo Ninh, Vũ thư Hiên, Bùi ngọc Tấn, Nguyễn hguy Thiệp, Hòa thượng Thích quảng Độ, Cụ Lê quang Liêm, Cha Nguyễn văn Lý, cựu tướng cộng sản Trần Độ, đại tá cộng sản Phạm quế Dương, phó tiến sỹ Nguyễn xuân Tụ tức Hà sỹ Phu, tiến sỹ Nguyễn thanh Giang, đồng bào ở Tây Nguyên, nông dân đấu tranh ở Đồng-nai, Thái-bình, Đông-anh (Hà-nội) và v.v… mới được quốc tế biết đến”. Sự phẫn nộ của cộng đồng người Việt ở hải ngoại (nhất là ở Mỹ) đã khiến tập đoàn khát máu ngụy quyền mafia đỏ Hà-nội phải “uyển chuyển” không dám hiện nguyên hình sói lang. Nếu không, những nhân vật nêu trên đã bị “nấu lẩu”.

Đã có cuộc sống tự do, ổn định, nhưng cộng đồng người Việt vẫn bỏ “tiền túi”, bỏ công sức đấu tranh chống tập đoàn Việt gian cộng sản tiếm quyền hiện nay ở Việt Nam thì phải khẳng định đây là một cộng đồng yêu nước nồng nàn không vì thời gian mà phai nhạt, không vì no đủ mà ngại khó ngại khổ bỏ quên đồng bào bên quốc nội.

Bản thân tụi đầu nậu mafia đỏ Hà-nội cũng biết cộng đồng người Việt ở hải ngoại là chỗ dựa tin cậy của các cá nhân và tổ chức trong nước đã và đang đấu tranh đòi mọi quyền tự do, quyền làm người, cho nên chúng đẻ ra mọi tổ chức, mọi chính sách, âm mưu gây chia rẽ trong cộng đồng, gây tranh luận những chuyện trời ơi đất hỡi đánh lạc hướng đấu tranh hiện nay của cộng đồng người Việt. Chúng dùng “tiền, quyền, hư danh” mua chuộc những cây bút cơ hội, những văn nghệ sỹ “óc đất gan muỗi” để thăm dò, để thử, để làm lẫn lộn thực giả. Khi thì “trộn” lẫn nhạc sỹ người Việt tự do với tụi trí nô cung đình mafia đỏ; khi thì cho ra những băng video ca nhạc nửa úp nửa mở với nội dung cứ như bồi bút mafia đỏ biên soạn; khi thì thương khóc, kỷ niệm thổi ống đu đủ, nâng những tên mafia đỏ nằm vùng như Trịnh công Sơn thành “thiên tài”; rồi tranh luận nào là “quên quá khứ hướng về tương lai; rồi lần lượt “vinh danh” tất cả trí nô, bồi bút của mafia đoû, không phân tích, mơ mơ hồ hồ đánh đồng loạt. Vụ “Trần Trường” chúng đưa ra để thăm dò phản ứng đã bị nếm mùi thất bại, nên tập đoàn Việt gian mafia đỏ ma giáo hơn, chúng cho một lũ giả tỉnh giả mê, làm như Khuất Nguyên hay Lý Bạch bên Tàu để làm loãng tinh thần, nội dung đấu tranh của cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Những nhà lãnh đạo của cộng đồng người Việt đã bền bỉ kiên trì gần 30 năm đấu tranh; sức mạnh của khối “thầm lặng” đã bộc lộ rõ ràng trong vụ “Trần Trường” đã đem lại an toàn và sự thoát ra ẩn số cho hầu hết những người đấu tranh với mafia đỏ. Nhưng cũng cần dựa vào thực tế đã diễn ra để thấy không phải bất cứ ai bị mafia đỏ trù ép, tù đày đều đáng được ủng hộ mà không phân biệt. Có kẻ “bán của giả” cũng được đón nhận, đề cao để được uy tín “tầm cỡ quốc tế”. Có kẻ dựng ra chuyện bom Mỹ ném làm chết ba trăm ngàn người dân ở Bến-tre!(?) Nghĩa là gấp trăm lần mafia đỏ Hồ chí Minh giết dân Huế năm 1968!!! ở bên Anh lại có chuyện kỷ niệm ngày các Thánh tử vì đạo thì chọn ngày 2-9 và trên tờ Mục Vụ, hai dấu “nặng” được thay bằng hai “ngôi sao năm cánh”??? Có kẻ được thoát tù, được tặng khen của quốc tế, quay lại “từ chối lá cờ vàng ba sọc đỏ”. Thậm chí có kẻ tu hành, tay cầm hộ chiếu “cờ đỏ sao vàng” mà sang tới Mỹ, đến với cộng đồng người Việt nhưng không chịu nhận lá cờ Vàng ba sọc đỏ của quốc gia Việt Nam. Tôn giáo nào bắt buộc được đứng dưới lá cờ này mà không được đứng dưới lá cờ kia? Loại “sư sãi mộc tồn” như vậy thì có họa là “tu hú” tiền dành cho loại “sư sãi mộc tồn” đó, dùng giúp các thương phế binh của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn kẹt lại ở Việt Nam hoặc đồng bào ở An-truyền hay Nguyệt-biểu còn hơn rất nhiều, và có ý nghĩa quan trọng và thiết thực trong lúc này.

Gần 30 năm đã qua đi, cộng đồng người Việt ở hải ngoại rõ ràng đã thể hiện tấm lòng sắt son, bền bỉ vì dân vì nước. Hoàn toàn là “cơm nhà việc nước” nhưng đã chứng tỏ sức mạnh có khả năng trấn áp sự man rợ của tập đoàn mafia đỏ Hồ chí Minh, ngụy quyền cộng sản Hà-nội hiện nay.

Sức mạnh của cộng đồng sẽ được giải phóng hoàn toàn nếu bọn nằm vùng bị vạch mặt chỉ tên, bị tẩy chay (như trong vụ Trẩn Trường); bọn cơ hội đi hai hàng bị lật tẩy. Chỉ có “diệt xong phá hoại nội bộ” thì mới có thể kiến tạo được sự đoàn kết trong cộng đồng, sức mạnh cứu nước sẽ được nhân lên gấp ngàn vạn lần, đóng vai trò quan trọng cùng nhân dân cả nước giành lại quyền làm chủ đất nước Việt Nam, giành lại trọn vẹn đất đai, sông biển của Việt Nam.

Xét về mặt nào cũng vậy, tụi thương khóc tên nằm vùng Trịnh công Sơn, tổ chức vinh danh hắn, còn tệ hại hơn vụ “Trần Trường” và thách đố cũng hỗn xược hơn Trần Trường đối với cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Những cá nhân, tổ chức trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại có kiến thức về luật pháp cũng nên xét xem những kẻ làm đơn xin tỵ nạn cộng sản nay lại vinh danh gia nô của cộng sản công khai như vậy thì là tỵ nạn thiệt hay thâm nhập nằm vùng, có thể đề nghị truy tố về tội khai man để được cư trú hợp pháp rồi hoạt động từng mức độ cho cộng sản hay không. Làm được việc này mặc nhiên sẽ loại được bọn nằm vùng làm trong sạch hàng ngũ người Việt ờ hải ngoại để trở thành chỗ dựa vững chắc, tiếng nói chính nghĩa của mọi hình thái đấu tranh tại quốc nội, chống tập đoàn mafia đỏ tiếm quyền ở Việt Nam hiện nay.

Tội ác diệt chủng, bán nước của tập đoàn Việt gian cộng sản từ họ Hồ đến nay là Nông đức Mạnh đã rành rành. Cho nên không thể ỷ y vào “tự do” ở thế giới phương Tây để ca ngợi, vinh danh, hà hơi tiếp sức dù bằng kinh tế, hay kỹ thuật, hay văn hóa cho tụi Việt gian. Tất cả mọi sự hà hơi, tiếp sức cho Việt gian chỉ có thể kết luận đó là Việt gian hoặc hành động Việt gian!!!

Toàn bộ nhân sự, kiểu tổ chức, đường lối chính sách của tập đoàn mafia đỏ Hồ chí Minh cho đến nay có bề dài thời gian hơn nửa thế kỷ, đủ để soi rọi rõ ràng cũng như chúng đã bộc lộ rành rành là một lũ băng đảng mafia, Việt gian; là nguồn gốc của tham nhũng, đĩ điếm, phá hoại, vô luân v.v… Và đặc biệt là trong lịch sử Việt Nam, tập đoàn mafia đỏ Hồ chí Minh là tập đoàn duy nhất có chính sách nhất quán bán tài nguyên, con người và đất đai, sông biển của Việt Nam cho ngoại bang!!!

Tất cả mọi đường lối chính sách từ khi Hồ còn cầm quyền cho đến khi hắn chết được bè lũ do Hồ đào tạo để thay thế hắn từ Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười, Lê khả Phiêu và nay là Nông đức Mạnh đều thực hiện khẩu hiệu:

“Đối nội đàn áp thẳng tay

Đối ngoại đầu hàng, kết thân”

Và, đứa nào “nối nghiệp” cũng đều củng cố và nắm vững “cơ quan chuyên chính” là binh lính và công an cùng với độc quyền nắm chặt túi tiền.

Tùy theo tình hình quốc tế và mức độ giác ngộ của dân chúng, việc thực hiện các chính sách phản dân hại nước của chúng có màu mè, uyển chuyển xoay quanh cái trục là hai khẩu hiệu hành động nói trên.

Những cây bút “chống đối” ở trong nước thường phê phán việc đệ tử của Hồ đã thay đổi hiến pháp và sao chép điều 4 theo nội dung của hiến pháp Nga-xô (việc độc quyền của mafia đỏ) là làm sai đường lối của Hồ. Họ cố tình nhắm mắt giả làm “thầy bói sờ voi” để hô hoán rằng cái tai con chó Lê Duẩn, cái đầu con chó Trường Chinh, cái “giống” con chó Đỗ Mười, cái chân con chó Lê khả Phiêu, cái đuôi con chó Nông đức Mạnh không giống con chó sói Hồ chí Minh! Họ cố tình bỏ qua việc Hồ là kẻ mở màn việc hủy hiến pháp 1946 đẻ ra hiến pháp 1959 mà không “trưng cầu dân ý”. Họ cố tình không dám nghiên cứu xem âm mưu “cải cách ruộng đất” rồi “sửa sai cải cách ruộng đất”, “rèn cán chỉnh quân”, “cách mạng văn hóa tư tưởng”, “chỉnh đốn tổ chức”, “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”, “ôn nghèo nhớ khổ”, “xây dựng con người mới XHCN”, “đào tạo cháu ngoan bác Hồ “ v.v… nhằm mục đích gì?(!) Họ cố tình quên việc Hồ trực tiếp ra lệnh cấm các đảng Dân chủ và Xã hội không được kết nạp đảng viên mới, không được phép xin ra đảng trừ khi bị chết (để tiện quản lý) và trong mỗi đảng có một “chi bộ cộng sản” trực tiếp lãnh đạo, giúp việc cho một “phái viên cộng sản” chịu trách nhiệm chung (cụ thể là các tên Phạm Hồng, Nguyễn việt Nam, Phạm tuấn Khánh – Cứ trực tiếp gặp các ông Hoàng minh Chính và Phạm tuấn Khánh hỏi xem để biết “hư thực ra sao”). Họ cố tình không nói đến việc Hồ “ị” ra cái gọi là “mặt trận tổ cuốc” để gom toàn dân theo nghề nghiệp, giới tính vào cái lồng gọi là “tổ chức riêng biệt của từng giới”; rồi tất cả những cái lồng đó lại được xếp trong cái sân nuôi “gà vịt” có lưới thép bao quanh, mang tên “mặt trận tổ cuốc”! Lý lịch của “bầy gà vịt” trong “mặt trận tổ quốc” do cục 78 bộ công an ngụy quyền Hồ chí Minh quản lý hộ. Và, khi nào, con gà nào được đưa đi hội chợ, con nào được cho ra “chọi thi”, con nào sẽ “luộc”, sẽ “quay”, sẽ “tấn”, sẽ “bóp gỏi” đều có sự bàn bạc của tên “quản lý trại gà”, và với cục 78 bộ công an ngụy quyền. (Thời điểm hiện nay, tức dưới thời họ Nông, vì tầm quan trọng nên do hai tên ác ôn là Phạm thế Duyệt và Lê minh Hương chỉ đạo việc lực chọn).

Hiến pháp 1959 của Hồ không có khoản nào như điều 4 của hiến pháp 1992 của đệ tử của Hồ là vì từ lúc bè lũ Hồ nhếch nhác vào Hà-nội 1954, tạm quản lý từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc thì bằng những chính sách nói trên, Hồ đã giết, đã bỏ tù toàn bộ các nhân sỹ yêu nước, các đoàn thể không cộng sản, các hội đoàn tôn giáo, các chức sắc tôn giáo v.v… cho đến cả những người vì nước bị đánh lừa vào tổ chức cộng sản. Nghĩa là toàn bộ những cá nhân, những tổ chức mà Hồ cho là vật chướng ngại, là không thích hợp cho việc thực thi chủ nghĩa thực dân đỏ. Hồ lại còn vô sản hóa toàn dân, biến tất cả thành nô lệ nên cần gì phải có cái kiểu như điều 4 hiến pháp 1992. Làm gì còn tổ chức nào, làm gì còn ai dám ra tranh quyền với Hồ và tập đoàn Việt gian cộng sản của hắn.

Trong thực tế, dưới tay Hồ cầm quyền, từ ngụy quyền Hà-nội với tất cả các ngành các bộ; từ các đại biểu “cuốc” hội; từ các thế lực chỉ đạo mặt trận tổ “cuốc”; từ đầu nậu các cái gọi là đoàn thể quần chúng; từ sinh viên, học sinh, xã viên hợp tác xã, công nhân, nông dân; từ sỹ quan ngụy, sỹ quan công an, thuế vụ v.v… chẳng có chỗ nào có “đối lập”, chẳng có “chỗ nào dám đối lập” vì tất cả đã được làm mồi cho giun hoặc đi “học tập” với “ngục sỹ Nguyễn chí Thiện”. Rồi bộ tư pháp bị hủy bỏ, không có khoa luật ở các trường; Hồ cai trị bằng sắc lệnh và lệnh miệng. Nghĩa là cái gọi là điều 4 được thực thi trọn vẹn và triệt để đến mức chẳng cần ghi vào hiến pháp vừa lòng thòng vừa lộ mặt chó sói của Hồ

Xin lưu ý bạn đọc và các cây bút “chống đối” ở trong nước mà “đề cao Hồ”, rằng: Hồ là loại “siêu”, hắn không thèm ghi vào hiến pháp mà hắn cứ việc làm còn quá đáng hơn các đệ tử của hắn ghi vào hiến pháp “mới”! Dám làm!!!

Các vị đều nếm mùi họ Hồ rồi, sao cố tình quên làm “chi dzậy”. Mong các vị, toàn là những học giả đầy lý luận, có dũng cảm “chống đối” tập đoàn cộng sản Việt Nam hiện nay hãy dũng cảm nhìn vào quá khứ thời họ Hồ để thấy một sự thật rõ ràng bằng cả số liệu, bằng cả hình ảnh rằng:

Họ Hồ là cái gốc của mọi tội ác giáng lên đầu nhân dân đất nước Việt Nam, còn lũ kế nghiệp Hồ từ Lê Duẩn trở đi chỉ là các cành lá có kích thước, thậm chí mọc theo phương hướng khác nhau nhưng vẫn là cùng chung một gốc. Chỉ có chặt cái gốc mới tiêu diệt được mọi tội ác mà nhân dân và đất nước Việt Nam đã và đang phải gánh chịu!!!

Một câu hỏi được đặt ra là tại sao lũ đệ tử của họ Hồ phải trắng trợn nặn ra cái gọi là “điều 4 hiến pháp ngụy quyền cộng sản 1992” và khai tử luôn hai cái đảng bại liệt Dân chủ và Xã hội?

Câu trả lời thật ra rất đơn giản và rõ ràng. Chỉ có điều vì thiếu “tư duy khoa học”, thiếu dũng cảm và trung thực nên người ta cố tình “nhắm mắt” giả ngủ mê, ú ớ nói mơ những điều mơ hồ vô nghĩa.

Nhiều người đang đóng vai tiến bộ, ăn nói mạnh bạo nhưng chỉ đề cập đến những cái thứ yếu, mà vẫn né cái thực tế lù lù như thái sơn.

Xin lặp lại chuyện cũ, bắt đầu từ trước 30-4-1975. Đó là “vụ án nhạc vàng” ở Hà-nội. Nhiều thanh niên Việt Nam ở Hà-nội khi đó, có cả cháu dâu Phạm văn Đồng, là diễn viên điện ảnh nổi tiếng, tên gọi là Trà Giang (ủy viên ban chấp hành hội liên hiệp văn học nghệ thuật, trụ sở tại 51 Trần Hưng Đạo, Hà-nội) thường tụ họp nhau hát “nhạc vàng”. Tức là hát những bài hát của Việt Nam Công Hòa được phát trên làn sóng điện đài mà họ lén nghe và học htuộc được. Nạn nhân chính của vụ án nhạc vàng là ông Toán “xồm”, khi bị tòa án mafia đỏ Hà-nội cật vấn, đã thành khẩn “nhận tội” yêu thích chế độ miền Nam mà chỉ do giai điệu và lời bài hát của miền Nam mà thôi. Kết quả là ông Toán bị kết án 12 năm tù khổ sai. Những người chung vụ bị án từ 6 năm đến 10 năm tù. Nhưng trên thực tế chẳng ai được ra tù sau khi mãn hạn, mà ở mút chỉ luôn, có người bỏ xác lại nhà tù của “ông tiên” của Lữ Phương! Riêng Trà Giang thoát hiểm vì có cái ô dù là Phạm văn Đồng, mặc dù Trà Giang còn “táo tợn” nhận xét: “Nhạc miền Nam tình người chứ không gân guốc sắt máu như nhạc miền Bắc!”

Phóng viên AFP ở Hà-nội khi đó đã đưa tin và nhận xét nhẹ nhàng đại ý rằng: “Theo luật pháp hiện hành của Hà-nội thì không có khoản nào nói rằng thích trong tư tưởng một chế độ xã hội nào đó mà bị coi là có tội”.

Tổ tiên ta đã dạy rằng: “Trăm nghe không bằng một thấy. Trăm thấy không bằng một sờ. Trăm sờ không bằng một nếm”. Nhóm ông Toán chỉ “nghe” mà đã “yêu thích chế độ miền Nam”. Còn Trà Giang, công dân loại 1, loại siêu (vì Trà Giang còn là đại biểu “cuốc” hội ngụy quyền Hồ chí Minh), được ngụy quyền Hà-nội phong tặng danh hiệu “nghệ sỹ ưu tú”, “nghệ sỹ nhân dân” mà nhận xét nhạc miền Nam tình người, còn nhạc mafia đỏ thì sắt máu. Chắc chắn chẳng ai ép buộc, dụ dỗ ông Toán và diễn viên Trà Giang phải nói như vậy. Có nghĩa là nhận xét chân thành từ trái tim.

Vì sao có nhận xét đó? Vì các loại hình nghệ thuật trong tay Hồ chí Minh không được phục vụ nhu cầu thẩm mỹ mà là phương tiện kích động để thực hiện “tư tưởng” của Hồ là chém giết. Ngay trong giáo dục cũng vậy. Các em bé đi vườn trẻ, nói còn chưa sõi đã nghe “cô giáo” kể chuyện “Anh “bộ đội” mỗi ngày giết bao nhiêu “lính ngụy””. Rồi “cô giáo” hỏi các em: “Lớn lên các em làm gì?” Tất nhiên các em được dạy để đồng thanh trả lời: Lớn lên em cầm súng giết Mỹ-Ngụy”. Cô giáo hân hoan: “Đúng! Các em giỏi lắm! Các em sẽ là “bộ đội bác Hồ” giết thật nhiều Mỹ-Ngụy”. Nhiều em về nhà vẫn còn bị ám ảnh việc giết người như thế, nên có em hỏi cha mẹ: “Bố mẹ có muốn giết Mỹ-Ngụy không?”

Cho uống mật gấu cũng chẳng ông bố bà mẹ nào dám nói không. Chưa nói đến việc nhiều gia đình, bố mẹ còn hùa theo: “Phải giết thật nhiều mới là cháu ngoan bác Hồ”.

Nội dung nghệ thuật và định hướng giáo dục đó của Hồ chí Minh đã “đơm bông kết trái”. Thí dụ cụ thể: hai đứa con trai của Đinh thị Cẩn (người tình của Hồ), phó chủ nhiệm thường trực ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em, ủy viên dự khuyết trung ương mafia đỏ, nghe bạn cùng lớp có xích mích với một thanh niên nào đó, đã cầm dao giết người giữa thanh thiên bạch nhật ở phố Huế (cạnh tiệm phở Tân Việt). Khi biết giết lầm người chúng chẳng chút ăn năn mà còn định đi giết nữa. Dân qua đường, không biết chúng là con mụ Đinh thị Cẩn nên bắt giao cho công an, tạm giam ở Hỏa-lò. Ngay tối đó Hoàng quốc Việt đích thân lái xe hơi đến đón chúng ra, rồi cho qua Nga-xô học.

Con trai tướng Nguyễn văn Vịnh cũng vậy. Một ông già đi xe đạp lúc tan đá bóng ở sân Hàng Đẫy (Hà-nội) ra, chập choạng tay lái va phải nó, thế là nó rút dao đâm chết ông già, nhổ nước miếng bỏ về nhà ở đầu Cao Bá Quát, gần ngay đó. Bị dân la ó, công an đuổi theo, khi thấy nó vào nhà Nguyễn văn Vịnh (lúc đó đã bị quản thúc vì vụ án xét lại), công an mở số lùi. Thằng sát nhân đó cũng được cho vội qua Nga-xô để đào tạo.

(Xin mời đọc tiếp bài 17)

http://sutichconyeurauxanhovietnamhochiminh.blogspot.com/

Sự tích: Con yêu râu xanh ở Việt Nam – Hồ Chí Minh 15/18

Sự tích:

Con yêu râu xanh ở Việt Nam

* * * * *

Việt Thường

Bài 15

Nếu điểm lại kỹ càng những việc Hồ đã làm, từ khi hắn lấy cái tên Nga là Line, trở thành mật vụ cho Nga-xô, cho đến ngày hắn chết, thì mới thấy cái lưu manh của Hồ trong nội dung di chúc của hắn.

Hồ soạn mấy cái di chúc để đệ tử tiện sử dụng tùy thời lúc hắn chết. Nhưng tựu trung vẫn chỉ là căn dặn đệ tử:

1. Phải coi việc bảo vệ mẫu quốc là trọng tâm hoạt động của toàn tổ chức mafia đỏ Việt Nam

Cái nội dung của nhiệm vụ trung tâm nói trên có nghĩa là phải tiếp tục thực hiện chiến lược bành trướng của chủ nghĩa thực dân đỏ, tức xâm lược bằng được miền Nam Việt Nam, Lào và Căm-bốt. Sau nữa, có thể mở rộng ra cả vùng Đông-nam-á. Muốn thế, về đối nội phải tiếp tục chuyên chính, nghĩa là dùng bạo lực cưỡng bức toàn dân theo lệnh của tụi chóp bu của tổ chức mafia đỏ Việt Nam. Phải hoàn thiện chủ nghĩa xã hội, nghĩa là phải tiếp tục vô sản hóa toàn dân, biến toàn dân thành nô lệ kiểu mới, thành tài sản của tổ chức mafia đỏ. Có thế mới có điều kiện thực thi nhiệm vụ bành trướng của chủ nghĩa thực dân đỏ.

Cái mà Hồ nói đến là “chủ nghĩa quốc tế vô sản” là thứ màu mè che đậy nội dung của “chủ nghĩa thực dân đỏ”. ở Paris, có nhà luật học đã cố tình quay lưng với thực tế, làm trò xiếc tung hứng chữ nghĩa để viết rằng “Hồ là phe quốc tế”, còn những Nguyễn Thái Học, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu v.v… là “phe dân tộc”!!!

Tổ tiên ta đã dạy: “Đừng buôn chung với Đức Ông”. Cho nên nước lớn thì dùng cái mặt nạ “chủ nghĩa quốc tế” để che bộ mặt thật là thực dân. Còn mấy tên làm chính trị của nước nhỏ thì đeo mặt nạ “chủ nghĩa quốc tế” để che đậy bộ mặt Việt gian, dựa vào nước lớn để giữ vững quyền lợi cá nhân và phe nhóm mà thôi.

Cuộc chiến tranh họ Hồ phát động ở hai miền Bắc và Nam Việt Nam có lợi cho ai, thật rõ ràng. Còn nhân dân và đất nước Việt Nam bị mất đủ mọi thứ, cả tinh thần, cả vật chất.

Bè lũ Lê Duẩn đi tiếp con đường phản dân hại nước của Hồ, càng dìm nhân dân và đất nước Việt Nam vào đầm lầy, ngõ cụt. Gây chiến sang Căm-bốt, chiến tranh với Trung cộng, và để Nga-xô hưởng không cảng Cam-ranh chẳng tốn một xu và các mỏ dầu hỏa ở biển Đông thì liên doanh theo kiểu “chủ ăn thịt, chó gặm xương”!

Rồi khi “mẫu quốc đỏ” ngủm củ tỏi, bọn đệ tử của Hồ lại tiếp tục cái sự nghiệp “quốc tế vô sản” của Hồ, quay lại với “anh hai Trung cộng” xin sự che chở bằng dâng đất và biển, hệt như Hồ đã làm trước đây.

2. Bảo vệ sự đoàn kết trong tổ chức mafia đỏ

Khi còn sống, Hồ tạo ra hai băng Lê Duẩn và băng Trường Chinh kình chống nhau, nhằm mục đích không băng nào dám phản lại Hồ. Nhưng khi sắp chết, Hồ biết bọn chúng chỉ chờ Hồ nằm xuống là làm thịt nhau, nên Hồ mới căn dặn bọn chúng phải “đoàn kết” nghĩa là phải biết san sẻ quyền lợi, nhân nhượng để giữ vững quyền lợi “mẫu quốc đỏ” và quyền lợi của chính tổ chức mafia đỏ Hồ chí Minh. Kẻ phát biểu cái ý đó của Hồ chính là Tố Hữu, viết bài thơ ngay sau khi Hồ chết với đại ý rằng: “Nay cha mất rồi, anh em nên cùng nhau chia việc gánh vác”!

Đấy là một lối đãi bôi đểu giả của Hồ với băng Trường Chinh, vì hắn thừa biết là băng Lê Duẩn sẽ thắng thế. Nhưng, mục đích chính của Hồ là để hậu thế vẫn thấy hắn là còn người luôn vì nghĩa lớn, luôn luôn đi theo con đường “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết!!!”

3. Tha thuế cho nông dân

Từ cuối năm 1954, do hiệp định Genève về Việt Nam, Hồ đã nắm được quyền cai trị từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc Việt Nam. Hắn nắm quyền cai trị suốt 15 năm trời, chưa bao giờ hắn mở mỏ nói đến giảm thuế, giảm sưu cho dân. Mỗi phong trào hắn phát động là lại đem đến chém, giết, tù đày, đói khổ cho người dân Bắc Việt Nam, đặc biệt là nông dân. Ngay không phải thời gian giáp vụ thì cả miền Bắc Việt Nam đã phải trường kỳ ăn độn; ở nông thôn nhiều nơi chết đói nhưng tuyệt nhiên báo, đài không được đưa tin. Mọi tội lỗi của Hồ và tổ chức mafia đỏ của hắn gây ra cho nhân miền Bắc Việt Nam đều đổ cho “Mỹ-Ngụy”. Và, lũ bút nô ra công bịa các chuyện đói khổ ở miền Nam Việt Nam, để xoa dịu lòng dân. Nào là trong miền Nam, đàn bà con gái phải làm điếm kiếm ăn; gạo thiếu đến mức nhà buôn phải trộn hạt ny-lông vào gạo. Ngay lính Mỹ cũng bị “đói” đến mức phải cưỡi trực thăng đi cướp gạo của nông dân. (những điều này “hư thực ra sao” chắc Lữ Phương không thể chối là không biết!)

Cơ quan khoa học của Hồ được lệnh khuyến khích nhân dân ăn các thứ bá láp, nhưng lại chứng minh ra vẻ rất khoa học. Nào là ốc sên có nhiều đạm; ăn 7kg lá khoai mì cũng bổ tương đương bằng 1kg thịt bò; thịt cóc, nhái đều có nhiều đạm; rồi phổ biến làm “thủy sâm”; me-xừ Lý Ban, bí thư đảng đoàn bộ ngoại thương (thời kỳ Phan Anh làm bộ trưởng và Nguyễn văn Đào làm thứ trưởng), cũng là phái viên của Trung cộng trong trung ương mafia đỏ Việt Nam, thì ra công phổ biến cách nhịn ăn, sáng sớm uống độ 2 lít nước âm ấm. Me-xừ bác sỹ Nguyễn khắc Viện, tuy việc chính là “bịp” quốc tế về tình hình miền Bắc Việt Nam, có máu cơ hội nên hưởng ứng bằng bài báo nghiên cứu về “rau muống” đăng trên tờ Văn Hóa. Rồi nào là ngô bổ hơn gạo v.v… Và ngụy quyền Hồ chí Minh khuyến khích ăn thai nhi và nhau đàn bà đẻ. Và, chuột cống thành phố cũng được coi là nguồn thịt ngon lành.

Biết bao người ngộ độc vì ăn ốc sên, thịt cóc, thịt chuột, có nơi chết cả gia đình. Còn môn thuốc chữa đói của me-xừ Lý Ban cũng làm nhiều người trương bụng lên mà chết.

Những việc đó Hồ đều biết. Ngay cả ở chợ Đồng-xuân (Hà-nội), Hồ cũng hóa trang (nhà nghề gián điệp mà) giả làm một người già có bệnh ra mua tem thịt tiêu chuẩn 150gr một tháng, bị con bé mậu dịch viên bán thịt vứt cho cục xương và nói: “Không có thịt, ăn tạm cục xương này, không thì thôi!” Câu chuyện đó được nối dài thêm vào những “huyền thoại về Hồ”. Còn từ con bé mậu dịch bán thịt, cho đến cửa hàng thịt, ban quản lý chợ v.v… chẳng ai việc gì!!!

Cho nên trước khi chết, Hồ để di chúc mong nông dân được tha thuế lại chỉ là trò tự đánh bóng cố hữu của Hoà, trút cái khó khăn lại cho đệ tử. Nếu chúng “tha thuế” thì đó cũng là lệnh của Hồ; nếu “không tha thuế” thì dân oán chúng mà vẫn ơn Hồ và tiếc vì Hồ đã chết nên “cán bộ” làm sai tâm nguyện của Hồ. Đòn ma giáo này của Hồ còn nhằm phối hợp với ý thứ tư trong di chúc của hắn.

4. Đừng làm ma to, cho Hồ, lãng phí của dân

Một số bồi bút cung đình, một số cây viết người nước ngoài thuộc loại “dễ tính, vô trách nhiệm khi cầm bút” và “óc ít nếp nhăn” cứ tô vẽ thêm vào cho Hồ là giản dị, tiết kiệm v.v… để “huyền thoại về Hồ” càng thêm nhiều điều phét lác.

Trong lịch sử Việt Nam, trải dài hơn 4000 năm, chưa có kẻ nào lãng phí máu xương, tài nguyên của Việt Nam như tên Việt gian Hồ chí Minh. Lê long Đỉnh bất quá giết mấy ông sư. Gióc mía lên đầu cũng chỉ dăm ba người, cho hổ ăn thịt cũng độ chục mạng. Trần thủ Độ có chôn sống cũng chưa đến 100 người thân tộc, sủng thần của nhà Lý. Ngay Gia Long, Minh Mạng cũng giết dân khá nhiều, nhưng cũng chỉ tới số ngàn.

Còn Hồ, chỉ riêng số thanh niên cùng gia đình và bạn bè quen biết của họ, bị Hồ bán cho mật thám Tây năm 1929 cũng đã ở con số hàng ngàn. Báo cáo của Hà huy Tập gửi quốc tế 3 đề ngày 20-4-1935 viết:

“Trước và sau đại hội của đảng, một số đồng chí khi nói chuyện với nhau thường bàn về đồng chí Quốc (tức Hồ). Họ cho rằng Quốc chịu trách nhiệm về việc mật thám bắt hơn một trăm hội viên đoàn thanh niên, bởi vì:

a) Quốc biết rõ Lâm đức Thụ là một tên khiêu khích nhưng vẫn làm việc với hắn.

b) Quốc đã phạm sai lầm khi yêu cầu mỗi thanh niên nộp hai bức ảnh, ghi rõ tên thật, địa chỉ, tên cha mẹ, ông bà, cụ kỵ cùng với tên của từ 2 đến 10 người bạn.

c) ở trong nước, ở Xiêm (Thái-lan) và ở trong tù, người ta vẫn còn bàn tán đến trách nhiệm của Quốc, trách nhiệm mà anh ta không dám chối.”

Năm 1945, Hồ còn cho lệnh ám sát những người đối lập, các đảng phái không cộng sản, kể cả nhóm troskít, cho đến tín đồ và chức sắc các giáo phái cũng vài chục ngàn. Rồi cải cách ruộng đất của miền Bắc Việt Nam cũng ở con số ngót nghét một triệu, chưa kể các trò ma quái khác, kể cả việc xâm lăng miền Nam Việt Nam!

Khi còn sống, Hồ đã chứng kiến bao sự lãng phí trong các ngày lễ, nào in ảnh màu (trước khi hoàn thành nhà máy in Tiến bộ) ở nước ngoài; nào ảnh dệt của Hồ; tượng lớn tượng nhỏ của Hồ cũng như các thứ huy hiệu mang hình Hồ v.v… cùng với sự lãng phí của các đệ tử của Hồ, có bao giờ thấy hắn trừng phạt ai đâu. Hắn chỉ nêu chung chung lấy cớ siết chặt mọi nhu cầu thiết yếu của dân mà thôi, như ủng hộ “miền Nam”, “anh Trổi chị Quyên” để rồi lính ngụy và thanh niên xung phong tiết kiệm mặc quần áo cũ, trả lại quân phục mới; công nhân thì làm thêm giờ, không đi phép năm; nông dân “xin” đóng thuế vượt mức v.v… và tự túc mỗi năm 3 tháng lương thực đi “lao động nghĩa vụ” (tức làm sưu); công nhân, xã viên hợp tác xã, cán bộ, nhân viên trong các nhà máy, cơ quan cũng phải gánh thêm phần việc của nhau để mỗi năm 3 tháng đi “lao động nông nghiệp”!

Cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam càng ác liệt thì Hồ càng thẳng tay trấn lột nhân dân tàn bạo hơn. Nhà dân bị rỡ làm cầu, làm đường không bồi thường. Các nghĩa trang bị san bằng lấy cớ làm trận địa phòng không. Học sinh mẫu giáo phải đóng tiền “làm hầm” trú ẩn, mà lạ nỗi là hầm cũ còn đó mà cứ mỗi năm hoặc nửa năm lại đóng mới lại. Nhưng, tàn bạo vô lương tâm nhất là Hồ cho tổ chức đám cưới các thương bệnh binh nặng với các nữ thanh niên, nhằm trút gánh nặng toàn bộ cho người phụ nữ nông dân. Vì thế mà xảy ra biết bao vụ vợ giết chồng hoặc tự tử để “thoát nợ đời”.

Tất cả sự lãng phí của Hồ và tập đoàn cộng sản Việt gian của hắn đã đẩy số phận đa số phụ nữ miền Bắc thành điếm! Muốn vào làm việc ư; muốn được vào biên chế ư; muốn được nhập hộ khẩu ư; muốn được lên lương ư; muốn được đi học hay đi lao động ở nước ngoài ư; muốn vào đại học ư, và v.v…, hàng trăm thứ muốn. Người phụ nữ chỉ cần chấp nhận (nhiều khi không chấp nhận cũng không thể được) mang hiến cái phao câu của mình cho cấp có thẩm quyền (cán bộ tổ chức, cấp ủy mafia đỏ, công an hộ tịch, giám đốc, chủ nhiệm, bộ trưởng, thứ trưởng v.v…). Đâu có phụ nữ là cũng có tình trạng đó, có thể nói là 100%. Vì từ trên Hồ đến Lê Duẩn, Phạm văn Đồng, Võ nguyên Giáp, Văn tiến Dũng, Hoàng văn Hoan, Trần quốc Hoàn, Tố Hữu, Nguyễn văn Trân, Ung văn Khiêm, Nguyễn Côn, Hoàng Tùng, Trần danh Tuyên, Nguyễn đình Thi, Bảo định Giang, Lưu trọng Lư, Nguyễn tư Thoan, Vũ Đại, Vũ Quang, Nguyễn trọng Vĩnh, Hồng xích Tâm v.v… cho đến cấp cơ sở như tên Phán (đồng hương của Phạm văn Đồng) chỉ là cửa hàng trưởng cửa hàng văn phòng phẩm Tràng Tiền (Hà-nội) mà có 42 nữ nhân viên thì hắn đã “gặm phao câu” của tới 40 nàng kiều!!!

Chuyện hiến thân cho cấp trên phổ biến đến mức, trung tá ngụy quân Hà minh Tuân, nhà văn kiêm giám đốc Nhà xuất bản Văn học phải viết cuốn “Vào đời” để kêu gọi dư luận xã hội. Nhưng kết quả ngụy quyền Hồ chí Minh chẳng những không sửa sai mà còn cất chức và cất bút của nhà văn Hà minh Tuân và bọn chúng cố tình cho tên của ông ta vào lãng quên. Những Nguyễn Khải, Lê Lựu v.v… có thời là đàn em của Hà minh Tuân, nhưng có ai dám nhớ đến nhà văn dũng cảm đó!!!

Ngay cái ngụy quyền mafia đỏ, của Nông đức Mạnh bây giờ, vẫn còn những gương mặt tự hiến phao câu nên đã nhẹ nhõm leo nhanh trên bậc thang quan lại đỏ, như Cù thị Hậu, Nguyễn thị Hằng, Võ thị Thắng, Nguyễn thị Bình (phó chủ tịch nước), Trương thị Mỹ Hoa (phó chủ tịch quốc hội) v.v…!!!

Cù thị Hậu xuất thân từ thợ dệt ở nhà máy dệt Nam-định. Để trở thành chiến sỹ thi đua, đã phải “chiều lòng” từ cấp ủy nhà máy đến tỉnh, rồi cả “phóng viên thường trú của Việt Nam thông tấn xã cho đến ban thi đua bộ công nghiệp nhẹ, ban thư ký tổng công đoàn”. Vì thế mà trở thành đại biểu “cuốc hội”, mỗi lần đi họp thì chủ yếu chờ mua hàng đặc biệt do thương nghiệp phục vụ “cuốc hội”. Đến mức, chính Hồ còn toe toét cười hỏi: “Các cô chú ở thương nghiệp có chuẩn bị nhiều hàng cho đại biểu yên tâm họp không?” Mỗi lần như thế, bác sỹ Trần duy Hưng lại nhanh nhẩu đứng lên hô: “Hồ chủ tịch muôn năm!” Cả hội trường hô theo ầm ĩ khen: “Bác tâm lý thật”!

Đúng vậy, do nghề gián điệp, chỉ điểm nên Hồ rất “tâm lý”. Trong di chúc thì dặn đệ tử tha thuế, dặn đừng làm ma to cỗ lớn, đúng là giản dị thật. Nhưng sự thực là hắn đã nghĩ đến cái “mả” của hắn từ trước 1960.

Khi theo lệnh Hồ, Trường Chinh ký lệnh tập trung cải tạo tất cả những người Hồ cho là không thích hợp cho chế độ thực dân đỏ của Hồ, vào ngày 20-6-1961, thì thực tế đa số đã bị bắt giam từ 1960, cùng lúc với “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”. Cục lao cải của bộ công an (sau này gọi là cục quản lý trại giam) là đơn vị cục vụ duy nhất có chỉ huy trưởng là cấp tướng: thiếu tướng Lê hữu Qua (ngay vụ tổ chức cũng chỉ là đại tá Hoàng Thao; chánh văn phòng là đại tá Hồng Hà; viện trưởng viện khoa học công an là đại tá Mai văn Mạc). Cái “cục lao cải” quan trọng đến mức phải do cấp tướng chỉ huy vì nó có một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng mà Hồ giao cho Trần quốc Hoàn. Đó là xây hồ Suối Hai ở Ba-vì, là nơi, theo thầy địa lý, có miếng đất đế vương, nhưng phải cải lại một chút vì xưa kia đã bị ba Tàu yểm (hình như thời Cao Biền đô hộ). Cho đủ bộ vì, phải có Hồ Suối Hai để thăng bằng với đỉnh núi Tản. Hồ đích thân lén chôn những chiếc răng của hắn, gọi là có cốt, ở mảnh đất “phát vương” đó. Nhưng hắn “đa nghi” nên chơi trò “năm ăn, năm thua”. Nghĩa là, ngộ nhỡ mảnh đất đó không phát thì nếu chôn cả cái thây của hắn ở đó, có thể có kẻ phá (hắn biết có lắm kẻ thù là nhân dân); còn chôn răng không thôi cũng sợ có thể phát mà cũng có thể không. Vì thế hắn muốn có cái lăng nằm chình ình giữa thủ đô, để chí ít thì cũng như Lê-nin, và cũng sẽ hy vọng là “vinh quang” mãi mãi!

Trong lúc đang chiến tranh, nhân dân còn đói khổ mà lại ghi vào di chúc là xây lăng thì chỉ có kẻ ngu! Hồ chưa bao giờ làm việc gì mà không “thủ đoạn, ma giáo”. Cho nên hắn lại diễn lại vở kịch cũ. Đó là những ngày đầu (sau cuộc chiến bùng nổ ra ngày 19-12-1946) chạy lên Việt-Bắc, Hồ không chịu được mùi thuốc rê, vì hắn chỉ quen hút ngày vài bao thuốc lá thơm Craven A, là thứ chỉ có thể mua được ở Hà-nội, là nơi quân Pháp tạm thời quản lý. Cho nên hễ “vào cuộc họp là Hồ ra công ho”. Và, theo đề nghị của Phạm văn Đồng, “trung ương mafia đỏ” (lúc đó còn chưa công khai) gồm Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Võ nguyên Giáp, Hoàng quốc Việt, Nguyễn Khang, họp và ra nghị quyết bắt buộc Hồ phải hút thuốc thơm Craven A để khỏi ho. Và, tất nhiên Hồ tôn trọng và chấp hành ý “trung ương”. (Điếm thật!!!). Người được giao trách nhiệm lo cung cấp thuốc lá thơm cho Hồ hút, nghĩa là phải cử người lén vào Hà-nội mua, là Trần dụ Châu, bèn được Hồ cho cái lon đại tá ngụy quân, phụ trách quân nhu.

Lợi dụng việc đó, Trần dụ Châu đã dùng tiền của Chính phủ Liên hiệp đa đảng, lãng phí vô tội vạ. Thị trấn Thanh-cù (Phú-thọ) là nơi ăn uống xa hoa của thuở đó, chủ yếu là nhân viên dưới quyền Trần dụ Châu. Và, hang ổ của hắn ở Ao-châu (huyện Ấm-thượng, Phú Thọ) thì tiệc tùng thâu đêm. Chính đại biểu quốc hội khóa 1 là giáo sư Đoàn Phú Tứ, đã chứng kiến các vụ việc đó, giáo sư viết thư “hạch tội” họ Hồ. Thế là Hồ cho lệnh tử hình Trần dụ Châu ngay. Hồ đi quả bất ngờ này nên Trần dụ Châu chưa kịp khai báo gì nhiều, và chuyện đến đó là hết, không lôi theo các vụ việc khác như vụ Phạm văn Đồng cưỡng ép một “cháu” học sinh ở miền Nam ra, chẳng hạn. Hồ bèn đặt vào cái ghế chủ nhiệm quân nhu một nhân vật do bề tôi thân cận và trung thành của Hồ là Nguyễn lương Bằng (tức Sao Đỏ hay anh Cả Đỏ) giới thiệu. Đó là Trần đăng Ninh, được đeo lon thiếu tướng và được là ủy viên trung ương chính thức của mafia đỏ từ đại hội 2 (1951). Ngoài việc cung cấp thuốc lá thơm cho Hồ, Trần đăng Ninh còn là kẻ kiếm gái người dân tộc thiểu số cho Hồ chơi. Nạn nhân Nông thị Xuân chính là do Trần đăng Ninh lựa chọn và “làm công tác tư tưởng” trước khi tiến cung!

Việc làm công tâm của đại biểu Quốc hội khóa 1 là Đoàn Phú Tứ càng khiến Hồ nóng lòng ra tay “tiêu diệt âm thầm” Chính phủ Liên hiệp đa đảng và Quốc hội như đã trình bày ở những phần trên.

Cho nên trong di chúc để công khai với toàn dân và quốc tế thì Hồ đóng trò “thanh liêm”, nhưng bên trong Hồ cho khẩu lệnh khác, vì thế mới có sự nhất trí của chính trị bộ mafia đỏ là xây lăng, ướp xác cho Hồ, dám làm trái di chúc của Hồ khi thây Hồ còn chưa kịp lạnh và đã sẵn sàng đội ngũ chuyên gia ướp xác Nga-xô từ ngàn dặm kịp thời có mặt!

Thật là mọi chuyện rõ như ban ngày. Có mù như sẩm thì cũng sờ bằng tay hay nghe bằng tai được!

Cái lăng của Hồ là một “tội ác tàn bạo” nữa của Hồ và tập đoàn cộng sản Việt gian của hắn giáng lên đầu nhân dân Việt Nam. Không kể tiền bạc, tài vật, mà nó là kết tinh của bao khối máu dân, bao giọt nước mắt của những người có chồng con chết trong khi chuyên chở gỗ, đá để xây lăng cho hắn, nếu có hứng chắc cũng nhiều như nước ở thác Bản Giốc mà thằng con hoang của Hồ là Nông đức Mạnh vừa dâng cho ba Tàu bành trướng bá quyền.

Hãy thử nghĩ xem, những năm đó, chiến tranh do Hồ phát động xâm lược miền Nam Việt Nam, đang ở thời kỳ ác liệt cả trên không, trên bộ và sông biển. Vậy mà gỗ là lấy từ rừng núi Tây nguyên chở ra Hà-nội. Tìm gỗ và lấy gỗ cũng phải bao nhiêu mạng người. Rồi lại qua đường gọi là “đường mòn Hồ chí Minh”, cứ mười phần thì tới Hà-nội chưa được một. Số còn lại cùng những đơn vị chuyên chở, gỗ và máu xương quyện lại với nhau và mãi mãi nằm lại trên đường đi! Còn đá xây lăng là do mẫu quốc Nga-xô ban cho, lấy từ vùng Caucase, chở bằng tàu biển đến phao “0” ở Hải-phòng. Từ đó, công binh ngụy quân cộng sản phải chở ngầm bằng phao vào vì cảng Hải-phòng bị bỏ mìn phong tỏa. Biết bao nhiêu con người Việt Nam nữa lại chết vì chuyên chở đá.

Xã hội Việt Nam trải qua bao triều đại, cũng có nhiều hôn quân, cũng có nhiều giai đoạn bị cai trị bởi tụi xâm lược phương Bắc (tức ba Tàu), và cho đến thực dân Pháp nữa, chưa bao giờ máu xương nhân dân Việt Nam lại bị sử dụng một cách tàn bạo và vô ích như thế. Các vua chúa ngày xưa cũng chẳng bao giờ khi còn sống bắt dân thờ sống trong từng nhà. Và, có xây lăng cũng chẳng bao giờ xây lúc đang có chiến tranh. Cũng chẳng bao giờ xây chình ình giữa lòng thủ đô như họ Hồ. Đã thế, sau khi lăng được hoàn thành, bọn đầu lãnh mafia đỏ còn ra lệnh đưa chỉ tiêu cho các địa phương, cơ quan, trường học v.v… theo kế hoạch điều động dân luân phiên đưa nhau viếng lăng, đảm bảo lúc nào cũng đông người viếng đều đặn. Biết bao lãng phí về công lao động, xăng dầu, xe cộ để phục vụ cho sự điên loạn tàn bạo của họ Hồ và tập đoàn Việt gian mafia đỏ của hắn.

Rồi bây giờ, họ Nông lên cầm quyền, hắn làm lễ dâng hương cho con yêu tinh râu xanh, cha đẻ của hắn là họ Hồ, cùng lúc dâng hương cho cả Trần Phú và Hà huy Tập, cố tình làm nhòa đi những báo cáo của Trần Phú và Hà huy Tập đã méc với quốc tế 3 các thứ tội của cha hắn. Đồng thời, Phan văn Khải ra nghị quyết về “lễ hội”. Có nghĩa là tập đoàn đầu nậu mafia đỏ chuẩn bị dựa vào “truyền thống dân tộc” để tiến dẫn những tên cộng sản Việt gian ác ôn, có nợ máu với nhân Việt Nam, vào chiếc ghế “thành hoàng” ở các làng xã!!!

Ngày cái lăng họ Hồ “khai trương”, chỉ có “lãnh đạo” các cơ quan, đoàn thể đi xem trước, có một số phóng viên các báo, đài cũng được đi. Ấy thế mà chẳng biết canh gác ra sao để đến nỗi một bài thơ châm biếm đã dán ở gốc cây, nội dung như sau:

“Cũng lăng, cũng lính, cũng kèn đồng

Xác ướp da xương, tim óc không

Nằm quan tài kính cho người ngắm

Xác nhắm mắt nghiền chẳng dám trông

Sở thú kề gần dăm bảy bước

Thú người, người thú nực cười không!!!”

Ai làm thơ, ai dán, chắc cho đến nay bọn mafia đỏ vẫn chưa điều tra ra. Nhưng, rút kinh nghiệm “quả hớ” đó, kể từ ngày “khánh thành chính thức” cho đến về sau, nội quy bắt gửi lại đồ, người đi viếng phải tự kiểm soát nhau, không được tách ra đi một mình và v.v… Đến lúc ấy thì tự cái xác của Hồ, dù chỉ còn da; tim, gan, óc, phèo, phổi (không biết cái tạo ra Nông đức Mạnh còn không) đều bị moi ra hết, thế mà vẫn bị “thối”. Cái mũi chó săn của Hồ bị lỗ chỗ, phải đắp sáp. Và “nghe nói” cái xác của Hồ, thứ thiệt thì ngâm thuốc dưới hầm, còn cái trưng ở trong quan tài là bằng sáp nặn mà thôi.

Quả là họ Hồ, khi sống, lúc chết đều là giả dối hết!!!

Còn một câu hỏi nữa, đó là ngày chết của Hồ. Đầu tiên là 3-9-1969. Sau do “tiết lộ” của Vũ Kỳ rằng ngày đó là sai, do nhóm Lê Duẩn, Lê đức Thọ tự ý thay đổi, chứ Hồ chết vào đúng 2-9-1969! Và, thế là tụi mafia đỏ Việt Nam cho đổi lại ngày chết của Hồ cho đúng với tiết lộ của me-xừ Vũ Kỳ, gia nô tin cẩn của Hồ!

Chuyện vô lý đến thế mà cũng có nhiều người tin. Cả cái gọi là di chúc của Hồ với bút tích của hắn hẳn hoi mà bọn Duẩn, Chinh, Đồng, Thọ v.v… còn làm ngược lại như đừng “ma to cỗ lớn, lãng phí” thì chúng còn “lãng phí không chỉ tiền của trong xây lăng, mà cả xương máu”. Mỗi đời “tổng bí thư” lại bổ sung thêm những “chi tiêu lãng phí” cho cái lăng đó. Như bây giờ là thành lập bộ tư lệnh bảo vệ lăng; tổ chức chào cờ trước lăng hằng ngày v.v… “Tha thuế” vẫn là chuyện “hứa lèo”. Nếu có thi hành chút chút thì như bài tây ba lá, rút chỗ này, chập chỗ kia, nghĩa là tăng thêm các khoản đóng góp đủ loại nghĩa vụ! Đời Hồ đã bán đất, bán biển cho ba Tàu (các thư do Ung văn Khiêm, rồi đến Phạm văn Đồng gửi cho ba Tàu còn đó); đời con là Nông đức Mạnh lại còn tặng đất, tặng biển cho ba Tàu bạo hơn. Thế mà nay chỉ vì tên gia nô mà răm rắp sửa sai cái việc chẳng có chút gì quan trọng. Vì, đến ngày sinh của Hồ cũng toàn là “rổm” cả. Sao không sửa lại đi?

Vậy tại sao lại sửa ngày chết của Hồ?

Trước khi trả lời câu này, xin lưu ý bạn đọc rằng tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh ra lệnh “xóa bỏ mê tín dị đoan”, là xóa đối với nhân dân thôi, còn bọn chúng thì làm ngược lại. Từ Hồ trở xuống, từ Tố Hữu trở lên, thằng nào cũng rất tin vào tướng số, địa lý, tử vi.

Hoàng văn Hoan căm thù nhà văn Vũ Trọng Phụng đến mức dựa vào vụ “nhân văn – giai phẩm”, ra “khẩu lệnh” bắt hủy bỏ và cấm in, phổ biến mọi tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. Có hai nguyên nhân để Vũ Trọng Phụng bị “căm thù”, mặc dầu ông đã chết từ 1940, mà theo lời nhà thơ trào phúng Tú Mỡ, khi bịnh nằm ở khu an dưỡng đã “tâm sự” với người viết rằng:

1- Thấy Vũ Trọng Phụng nổi tiếng nên Trường Chinh móc nối muốn đưa Vũ Trọng Phụng gia nhập “cộng sản”, nhưng Vũ Trọng Phụng từ chối, lại còn nói, đại ý: “Bọn các anh chỉ mượn danh cách mạng để làm tiền những người yêu nước, dùng vào những việc đen tối!”

2- Trong tác phẩm “Giông tố”, lão già “cách mạng” kiêm thầy địa lý mà Vũ Trọng Phụng mô tả chính là mượn hình ảnh ngoài đời của Hoàng văn Hoan vậy.

Đỗ Mười từng bị điên phải sang Trung cộng chữa chạy, có thằng con trai cũng “điên điên, khùng khùng”. Một giáo sư sử học cũng có tiếng tăm, chuyên nghiên cứu tử vi, có dịp xem tử vi cho Đỗ Mười từ khi Mười còn là phó thủ tướng ngụy quyền Hà-nội, đã phán rằng Đỗ Mười sẽ phát đến bậc đầu lãnh số một của tập đoàn mafia đỏ. Và, khi mới ở ngôi vị thứ 2, sau Nguyễn văn Linh, thì Đỗ Mười đã “mời” viên giáo sư sử học đó làm cố vấn chìm. Qua Đỗ Mười, viên giáo sư sử học có điều kiện “cố vấn tử vi” cho hầu hết tụi đầu nậu mafia đỏ, kể cả gia đình nhà anh em Lê đức Thọ. Còn Trường Chinh thì “cả họ” nhà hắn, cả gái cả trai đều say mê tử vi.

Chính nhân vật “cố vấn tử vi” đó đã trình bày rằng ngày giờ Hồ chết không ổn, hãy bỏ ngày thật 3-9 đi mà đổi thành ngày 2-9-1969 thì hay hơn. Và, nếu không tin ở ngày giờ xấu, tốt thì cũng nên thấy cái việc không hay là ngày hôm trước thì kỷ niệm “dựng nước” (tức quốc khánh), ngày hôm sau đã “đại tang”! Chi bằng cho chung vào một ngày vừa kỷ niệm “dựng nước” vừa “nhớ” người “có công dựng nước”. Cả bọn đầu lãnh mafia đỏ đã ủng hộ ý kiến đó, nên mới có cái vụ “tiết lộ” của me-xừ Vũ Kỳ.

Câu chuyện trên do chính giáo sư Từ Chi kể lại, tên của viên “cố vấn tử vi” sẽ được nêu ra vào lúc thích hợp.

Nhiều người đã được giáo sư Từ Chi kể chuyện này. Nhưng có điều kỳ lạ là có người biết như vậy nhưng vẫn a dua và cổ võ mọi người, cùng a dua tấn công nhóm Lê Duẩn, Lê đức Thọ, cố tình bỏ qua những phi lý rành rành “như canh nấu hẹ”.

ở đây không phải là sự vô tình, mà “người ta cố ý hư cấu” các sự việc, diễn dịch các sự kiện thật, giả lẫn lộn. Vì sao vậy?

Vì tất cả đều biết rằng Hồ và cái thây ma của hắn là chỗ sinh tử của tổ chức Việt gian mafia đỏ. Nếu đánh vào đó, nghĩa là tập trung công sức vạch bộ mặt thật của họ Hồ ra thì tổ chức Việt gian mafia đỏ sẽ tan vỡ ra từng mảnh.

Chính vì thế, những kẻ có liên quan đến họ Hồ có thể hạ bệ nhau bằng mọi thủ đoạn, nhưng lại nhất trí với nhau bảo vệ và đề cao họ Hồ, như kiểu giữ cái nhãn đã được quốc tế và trong nước cầu chứng. Bọn họ ít nhiều đều đã có cổ phần trong cái công ty Hồ chí Minh, cũng vì quyền lợi cá nhân (hoặc nhóm) nên giả mù không dám phanh phui chuyện kinh doanh đĩ điếm, bài bạc, ma túy của cái công ty đó. Họ không ngu nhưng họ không trung thực và không là kẻ sỹ như nhiều người lầm tưởng.

Cho nên nếu chúng ta không tỉnh táo, vừa cổ võ họ vừa nuốt những lập luận đề cao họ Hồ của họ, có nghĩa là chúng ta chỉ chống vài tên “đang cầm quyền”, chứ không phải là chống toàn bộ tổ chức Việt gian và hệ lụy của nó.

Chẳng cần ai chống thì Trường Chinh cũng thay Lê Duẩn, rồi Nguyễn văn Linh lại thay Trường Chinh; Đỗ Mười thay Nguyễn văn Linh; Lê khả Phiêu thay Đỗ Mười và mới đây Nông đức Mạnh lại thay Lê khả Phiêu.

Cứ xét những bài viết mạnh bạo của cây bút “chống đối” xuất sắc là ông Trần Khuê thì thấy y như cái “đèn kéo quân”. Vừa mới đề cao Đỗ Mười thì đã quay ra khen Lê khả Phiêu, và rồi lại tin ở sự “ôn hòa” của Nông đức Mạnh. Sau Nông đức Mạnh sẽ đến ai đây? Vì cả ba thằng Mười, Phiêu, Mạnh đều vừa cấu kết bán đất, bán biển cho ba Tàu cộng! Bọn chúng có bán đất, bán biển thì cũng chỉ là đi theo cái việc họ Hồ đã làm từ thập niên 50 mà thôi!

Cho nên đấu tranh cho dân chủ là phải đấu tranh chống từ nguồn gốc sinh ra độc tài mất dân chủ.

Cái nguồn gốc đó là chính cá nhân họ Hồ; là sự lựa chọn đường lối chính trị của họ Hồ; là tổ chức Việt gian mafia đỏ của Hồ, mang cái tên “đảng cộng sản Việt Nam” và cái ngụy quyền “cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Bỏ quên Hồ (chứ chưa nói đến đề cao Hồ) mà chỉ tấn công Lê Duẩn hoặc Mười, Phiêu, Mạnh thì chẳng khác gì giặc Minh xưa kia giết Lê Lai để thoát Lê Lợi vậy.

Lê Duẩn, Lê đức Thọ chỉ là những mục tiêu giả hoặc thứ yếu. Nếu thần tượng Hồ chí Minh của tập đoàn mafia đỏ đổ thì sẽ lôi theo không chỉ Duẩn, Thọ v.v… mà sẽ làm sụp đổ toàn bộ hệ thống tổ chức – cả vật chất cả tinh thần – của tập đoàn Việt gian mafia đỏ, ngụy quyền Hà-nội hiện nay.

Chỉ có như vậy mới thực hiện được sự đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân Việt Nam, cả trong và ngoài nước, để xây dựng dân chủ và bảo vệ nhân quyền nhằm xây dựng một xã hội tự do, hạnh phúc, phồn vinh, trên cơ sở đó gìn giữ và thu hồi đất đai, sông biển của Việt Nam mà tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh đã dâng cho thế lực bành trướng bá quyền nước lớn, là Trung cộng.

Nhân dân Việt Nam nói chung, nông dân Việt Nam nói riêng phải thấy được rằng Hồ chí Minh là tội phạm đầu sỏ, tội phạm chính yếu, đã lèo lái cái tổ chức “cộng sản Việt gian” của hắn để đầy ải người dân Việt Nam trong thân nô lệ, trong kiếp nghèo đói và cũng Hồ là kẻ duy nhất trong lịch sử Việt Nam đã mang đất đai, sông biển của Việt Nam dâng cho ba Tàu. Tất cả nhân sự trong tổ chức “cộng sản Việt gian” đều do Hồ đích thân lựa chọn, đề bạt, giao trách nhiệm thi hành các chính sách phản dân, hại nước của hắn.

Thí dụ: Năm 1958, Phạm văn Đồng nhân danh thủ tướng ngụy quyền Hồ chí Minh gửi cho Chu ân Lai (thủ tướng Trung cộng) ủng hộ và công nhận việc Trung cộng chiếm các quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa, là thừa lệnh ai?

(Xin mời đọc tiếp bài 16)

http://sutichconyeurauxanhovietnamhochiminh.blogspot.com/

Sự tích: Con yêu râu xanh ở Việt Nam – Hồ Chí Minh 14/18

Sự tích:

Con yêu râu xanh ở Việt Nam

* * * * *

Việt Thường

Bài 14

Tội ác của Hồ giáng lên đầu nhân dân cả nước Việt Nam, từ số liệu người chết, do chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam mà Hồ phát động được trưng ra bởi tên trung tướng ngụy quân cộng sản Nguyễn đình Ước; số liệu người chết vì “cải cách ruộng đất”, “chỉnh đốn tổ chức”, “cách mạng văn hóa tư tưởng”, “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh” cũng đã vài triệu; chưa kể đến tụi mafia đỏ không cho phép thống kê số người chết đói, chết bệnh vì thiếu thuốc men v.v… Tất cả những cái chết đó đều bắt nguồn từ âm mưu của Hồ lèo lái chiến tranh giải phóng dân tộc, do Chính phủ Liên hiệp đa đảng và Quốc hội Khóa 1 lãnh đạo, thành chiến tranh bành trướng của thực dân đỏ.

Cũng vì phục vụ chiến tranh bành trướng của thực dân đỏ mà Hồ đã dâng đất, dâng biển cho Trung cộng, đánh thức dậy dã tâm cướp đất, cướp biển của Tàu lục địa để mở đường cho chúng tiếp tục chính sách bá quyền bành trướng và làm mẫu mực bán nước cho đến bây giờ là bè lũ Đỗ Mười, Lê đức Anh, Võ văn Kiệt, Lê khả Phiêu, Trần đức Lương, Phan văn Khải, Nguyễn văn An, Nông đức Mạnh noi theo.

Những tội ác trên là rõ ràng, không thể chối cãi và nhiều người đã công khai lên án. Nhưng, một tội ác khủng khiếp mà hậu quả của nó chưa biết bao giờ chấm dứt, đó là Hồ sử dụng tập đoàn Việt gian mafia đỏ của hắn phá tan truyền thống nhân ái, liêm chính, hỷ xả của nhân dân Việt Nam.

Nhìn vào bức tranh xã hội Việt Nam hiện nay, dù là đã bị sàng lọc qua ngòi bút của chính nhân sự của ngụy quyền Hà-nội, thì thật là khủng khiếp. Tham nhũng, đĩ điếm, nếp sống vô luân, vô liêm sỉ, cơ hội, mánh mung v.v… không chỉ ở cái như xưa kia gọi là “tầng lớp hạ lưu”, mà nó thành lối sống của ngay chính tập đoàn thống trị, tầng lớp trí thức cho đến cả các hội đoàn tôn giáo (quốc doanh), cả thành thị, cả nông thôn, cả miền núi và cũng đang rục rịch ra hoa kết trái ngay trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại!!!

Một vài ngòi bút ở hải ngoại đã và đang viết sách chửi cả dân tộc Việt Nam, y như nhân vật Chí Phèo của Nam Cao, chửi cả làng Vũ-đại vậy. Và từ đó thì Chí Phèo nổi tiếng có thể nói là hạng nhất của làng Vũ-đại. Trong khi đó, những người bình thường, hiền hòa, an phận không muốn nổi danh – dù thơm hay thối – vẫn bốn mùa chăm lo cày cấy; vẫn đều đặn tiếng chuông nhà thờ, tiếng chuông chùa. Và, khi có giặc thì cũng góp máu xương giữ làng, giữ nước. Có nghĩa là, đứng ở góc độ người dân (không muốn chơi trội, không có máu bon chen, cơ hội để cố ngoi lên làm lãnh tụ) trong đó có cả Thị Nở, thì làng Vũ-đại vẫn là cái gì đó thân thương quyện vào máu thịt, quyện vào từng hơi thở. Chỉ có duy nhất Chí Phèo phải mượn rượu để đủ can đảm chửi đổng cả cha, cả mẹ, cả trời, cả đất và cuối cùng là cả làng Vũ-đại!

Sự tồn tại của dân tộc Việt Nam đến tận ngày nay chẳng lẽ là do “thiếu tự hào dân tộc”, “đố kỵ ghen ghét nhau, “tôn thờ bạo lực và ác độc đối với nhau” và v.v… Người có nhận xét và sử dụng chữ nghĩa đó chính là me-xừ Nguyễn gia Kiểng với cái tên cuốn sách cũng đặt “lộn tùng phèo” là “Tổ quốc ăn năn”. Lá gan to như vậy, phải ra đến hải ngoại mới dám lớn lối, còn lúc trong vòng kiềm tỏa của mafia đỏ thì nó co lại có phần còn nhỏ hơn gan muỗi. Có lẽ cái tâm lý ấy dẫn dắt nên bây giờ nó nổ tung ra.

Nêu lên cái hiện tượng “Âu dương Phong luyện chưởng” trong làng viết ở hải ngoại, để thấy đấy cũng là nạn nhân của sự phá hoại các giá trị tinh thần của Việt Nam do tên đại gian, đại ác Hồ chí Minh thực hiện, còn hệ lụy đến nay và ra cả hải ngoại!

Trong tình hình hiện nay, nhiều ngòi bút bị mất phương hướng nên bày ra cái trò “bát quái trận đồ”, mà tập đoàn mafia đỏ cố tình cổ võ và chỉ đạo, để bút mực, công sức ở hải ngoại phí phạm vào cái trò tranh luận “kiểu lá diêu bông là cái gì” mà quên rằng chúng ta chỉ có một cách duy nhất, một khả năng trội hẳn là dùng ngòi bút để vạch rõ tội ác của tập đoàn Việt gian bán nước Hồ chí Minh mà điểm quan trọng nhất là chính tên Việt gian Hồ chí Minh!!!

Nhân dân trong nước, nhất là nông dân đã bắt đầu vùng lên, lan rộng cả ba miền Trung, Nam và Bắc Việt Nam. Những nơi được coi là “hang ổ của cách mạng mafia đỏ” lại là nơi mâu thuẫn gay gắt nhất như Thanh-hóa, Thái-bình, Bến-tre v.v… Nhưng chỉ đến thế thì chững lại.

Tại sao vậy?

– Tất nhiên là bị ngụy quyền cộng sản Hà-nội dùng mọi âm mưu vừa đàn áp, vừa dụ khị.

– Tại sao chúng lại dụ khị được?

Chính nhờ cái bóng ma của Hồ chí Minh vậy!!!

Nhân dân đã bị nhồi nhét từ nhiều năm vào đầu những “huyền thoại về Hồ chí Minh” do chính hắn tạo dựng ra; do bộ máy trí nô cung đình của hắn tô vẽ; do những cây bút người nước ngoài thiếu thông tin trung thực và cũng vô trách nhiệm nữa. Và nguy hiểm hơn nữa là do những cây bút, hiện nay đang được xếp vào loại chống đối, làm cho người dân tin rằng họ khổ là do “cán bộ” làm sai đường lối của Hồ. Vì thế, người dân hy vọng sẽ có sự sửa sai để thi hành đúng tư tưởng của Hồ là cái bánh vẽ khiến nhiều người trong họ đã dành cả cuộc đời hoặc phần lớn cuộc đời tin theo.

Thế là ngọn lửa cách mạng của người dân (nông dân) bị tụi mafia đỏ đương quyền dập tắt có sự tiếp tay của những cây bút đeo nhãn “chống đối”, tiếp tay bằng những “huyền thoại về Hồ chí Minh”.

Bản thân những “huyền thoại về Hồ chí Minh” của vài ngòi bút “chống đối” ở trong nước đã là nấm độc rồi, nó lại được bảo chứng bằng các báo, tạp chí ở hải ngoại mà người dân trong nước mặc nhiên tin tưởng đó là tiếng nói của các tổ chức chống cộng nên ăn những nấm độc đó không chút nghi ngờ.

Sự thiếu thông tin là điều không chấp nhận được của thời đại hiện nay. Nhưng điều cực kỳ nguy hiểm là dư thừa thông tin giả.

Cho nên tập đoàn mafia đỏ ngụy quyền Hà-nội hiện nay ra công ngăn nhiều bài viết tố cáo các tội ác của bọn chúng, nhưng không chặn hoàn toàn. Bởi vì nội dung nhiều bài đã chuyển tải nhiều điều có lợi cho chúng, đặc biệt là việc đề cao tên Việt gian Hồ chí Minh.

Chính vì thế mà đã xảy ra chuyện trái khoáy là những người bị áp bức căng khẩu hiệu “Đả đảo đảng” bên cạnh khẩu hiệu “tư tưởng chủ tịch Hồ chí Minh muôn năm”!!!

Vậy phải làm như thế nào?

Xin nhắc lại công trình của giáo sư Lê Hữu Mục và cộng đồng người Việt hải ngoại, đã chứng minh Hồ chí Minh là tên đạo văn, buộc UNESCO phải hủy việc tổ chức vinh danh hắn là “danh nhân văn hóa thế giới”. Chuyện này đã rõ ràng như vậy mà một cây bút “chống đối” xuất sắc ở trong nước là ông Trần Khuê (một nhà nghiên cứu) vẫn tự hào vì Hồ được Liên Hiệp Quốc vinh danh là “danh nhân văn hóa thế giới” và ông ta đề xướng ra cái gọi là “chủ nghĩa Hồ chí Minh”!!!(?)

Một thí dụ nữa là tướng Trần Độ. Những bài viết của ông Trần Độ có tác dụng tố cáo tội ác của tập đoàn mafia đỏ đương quyền hiện nay, cả trong và ngoài nước. Rõ ràng là có tác động tích cực, khơi dậy được sự bất bình của nhiều người có thâm niên tham gia tổ chức cộng sản (tức mafia đỏ) để hưởng ứng cuộc đấu tranh chống tụi thống trị hiện nay. Nhưng, ông Trần Độ vẫn tự hào về những tấm huy chương của Hồ trao tặng; tự hào về những chức vụ đã được ngụy quyền Hồ chí Minh ban cho; tự hào là “công dân loại 1, loại siêu” như ông tuyên bố. Như thế có nghĩa là đối với ông Trần Độ, họ Hồ vẫn là thần tượng, là chân lý. Ông Trần Độ chưa tính được xem bao nhiêu quân, dân miền Nam đã chết vì “tài cầm quân” của ông, theo lệnh Hồ, vũ trang xâm lược miền Nam Việt Nam; bao nhiêu thanh niên Bắc Việt Nam bị ông lùa vào lửa đạn bom của những người miền Nam Việt Nam chiến đấu tự vệ chống lại đạo quân xâm lược của ông. Chính những suối máu, núi xương và thác nước mắt của những người mẹ mất con, người vợ mất chồng được cô đọng thành những tấm huân chương trên ngực ông và những ngôi sao cấp tướng của ngụy quân cộng sản. ở cương vị của ông, với trình độ lý luận của ông, có thể nào ông không hiểu những âm mưu thâm độc Việt gian của họ Hồ và cái tổ chức mafia đỏ của hắn. Về vị trí trong bộ máy ngụy quyền Hồ chí Minh, ông Nguyễn Hộ chưa bằng ông, nhưng ông ấy đã có đủ thông tin hơn ông để nhận đúng diện mạo thực của họ Hồ và cái tập đoàn bán nước của hắn nên ông Nguyễn Hộ đã có một thái độ vừa anh hùng vừa trung thực vừa có trách nhiệm trước dân tộc Việt Nam. Ông Nguyễn Hộ đã tự chặt bỏ hơn nửa thế kỷ cuộc đời, giai đoạn xanh tươi nhất, vì nó đã bị nọc độc của con hổ mang bành Hồ chí Minh. Ông tự ý ra khỏi đảng mafia. Còn ông Trần Độ phải chờ bị đuổi khỏi “đảng” mà vẫn không nỡ rời.

Nếu ông Trần Độ kể cho mọi người (nhất là tuổi trẻ) biết ông và thế hệ của ông đã bị họ Hồ và cái bánh vẽ “chủ nghĩa cộng sản” lừa đảo, để hai tay ông nhuốm máu chính đồng bào mình, hai tay chỉ huy phá hoại chính tài sản cả vật chất cả tinh thần của nhân dân, đất nước Việt Nam như thế nào thì chính là ông đã tự gột rửa được hết sai lầm và càng được trân trọng, được ghi ơn.

Cùng góp phần giải quyết công việc nội bộ của dân tộc của đất nước Việt Nam thì càng cần minh định trắng, đen, sai, đúng.

Hết lòng ủng hộ, chân thành ủng hộ cuộc bút chiến của các ông Trần Khuê, Trần Độ v.v… đấu tranh với tập đoàn Việt gian Nông đức Mạnh hiện nay, nhưng không được lờ đi những cái mơ hồ, sai sự thực của các ông ấy. Bởi không minh bạch chuyện này, cứ đổ lỗi là việc vạch ra những sự thật lúc này làm ảnh hưởng xấu đến việc đoàn kết các lực lượng “chống cộng” hiện nay, sẽ không chỉ tác hại trước mắt mà cả lâu dài. Vì không phản đối nghĩa là chấp nhận.

Nếu chấp nhận cái giai đoạn ông Trần Độ xua ngụy quân cộng sản xâm lược miền Nam Việt Nam, gây thương vong cho quân lực Việt Nam Cộng Hòa, bắn giết nhân dân miền Nam Việt Nam, phá hoại làng mạc, thành thị và nếp sống của miền Nam Việt Nam không phải là trọng tội thì chẳng hóa ra những liệt sỹ QLVNCH, những thương phế binh của QLVNCH, những bà mẹ, trẻ em miền Nam Việt Nam v.v… bị bắn giết và sau tháng 4-1975, hàng triệu quân, dân, cán, chính của miền Nam Việt Nam bị tù đày, chết cả vài chục ngàn; hàng triệu gia đình bị đuổi đi lên miền núi hoang hóa cho chết dần chết mòn cả tinh thần, cả thân xác; hàng triệu người phải bỏ nước ra đi mà ít nhất cũng có cả 300 ngàn người nằm dưới biển Đông v.v… là không có ý nghĩa chăng?

Ông Trần Độ là người có công lớn với ngụy quyền Hồ chí Minh. Nhưng cái công đó càng lớn bao nhiêu thì tội ác đối với nhân dân cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam càng lớn bấy nhiêu.

Ông Trần Độ vẫn tự hào về những công lao đó. Ủng hộ việc ông chỉ trích trích ngụy quyền Hà-nội hiện nay là vấn đề chấp nhận được. Nhưng nếu cố tình quên việc làm quá khứ của ông ta thì sự tuẩn tiết của những anh hùng liệt sỹ QLVNCH như các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ; Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung tá Nguyễn Văn Long v.v… và những mất mát của cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam do cuộc vũ trang xâm lược miền Nam Việt Nam của Hồ phát động sẽ giải thích như thế nào? Là đúng hay là sai!!!

Chẳng biết do thiếu thông tin hay vì một nguyên nhân bí ẩn nào đó (kiểu ném đá giấu tay) mà ở hải ngoại hiện nay có tình trạng khó hiểu: Vinh danh loạn cào cào. Ông Vũ đình Huỳnh mà cũng được nhắc đến còn nhiều hơn cả Tướng Nguyễn Khoa Nam, Anh Trần Văn Bá v.v… Có thể khẳng định rằng ông Vũ đình Huỳnh chẳng có chút công trạng nào với dân với nước.

Là một người công giáo, ông bỏ đạo đi theo “cộng sản”. ở giai đoạn đó, động cơ đi hoạt động của ông chắc chắn là muốn chống thực dân Pháp, nghĩa là có yêu nước. Như hàng ngàn hàng vạn thanh niên Việt Nam khác. Năm 1945, ông được đưa làm thư ký cho họ Hồ. Khi kháng chiến, ông được cho làm vụ trưởng vụ lễ tân bộ ngoại giao. Đó là chức vụ trời ơi, đất hỡi vì lúc ấy có sứ quán nào đâu. Đến khi Nga-xô và Trung cộng công nhân và lập sứ quán, thì bọn chúng chủ yếu tự lo liệu lấy. Năm 1954 về Hà-nội thì ngoài sứ quán Nga-xô và Trung cộng thì có thêm ủy ban quốc tế giám sát đình chiến, với Canada, Ba-lan và Ấn-độ. Nhưng cái vụ lễ tân đâu có gì quan trọng như đề ra chính sách đối ngoại hay giao dịch gì. Việc của ông Vũ đình Huỳnh là lo những bữa tiệc, lo người phiên dịch, lo xe đưa đón, lo sắp xếp chỗ ngồi theo chức vụ của khách. Ông Huỳnh là một lão thành “cộng sản” chứ không phải là một cán bộ quan trọng. Ông bị “cộng sản” bỏ tù vì nằm trong “vụ án xét lại chống đảng”. Nếu cái gọi là “chống đảng” là có thật thì chỉ có nghĩa ông đi tù vì “đảng” của ông không thi hành đúng điều lệ “đảng”. Nghĩa là khi ông “bảo lưu ý kiến” về việc không tán thành nghị quyết 9, đúng “với điều lệ đảng”, thì ông bị đi tù. Tuy ở trong”đảng” thâm niên nhưng ông vẫn chẳng hiểu gì về “đảng và bác Hồ” của ông nên ông vẫn dại dột tin vào điều lệ, hệt như bây giờ mấy người còn tin vào hiến pháp của ngụy quyền Hà-nội vậy. Ngay việc “chống nghị quyết 9” thì cũng chỉ là muốn Việt Nam đi vào quỹ đạo Nga-xô, nghĩa là làm nô lệ cho Nga-xô chứ có phải đòi hỏi cơm ăn, áo mặc cho dân, đòi hỏi thực thi dân chủ cho dân và v.v… đâu. Vậy nên ở trong nước đề cao ông Vũ đình Huỳnh đã là sự vô lý, thế mà ở hải ngoại cũng đề cao ông ấy nữa thì thật là không biết phải nói như thế nào!!!

Ngoài ông Nguyễn Hộ và mấy người trong nhóm của ông thì phải kể đến những người dũng cảm dám vì dân chủ và tự do lên tiếng, sau khi được tận mắt thấy miền Nam Việt Nam, mà Sài-gòn là tượng trưng cho mầm dân chủ, tự do và phồn vinh. Đó là nhà viết kịch bản sân khấu Lưu quang Vũ; nhà thơ Bùi minh Quốc; nhà văn nữ Dương thu Hương; phó tiến sỹ Nguyễn xuân Tụ (tức Hà sỹ Phu); nhà thơ Hữu Loan; nhà văn Phùng Quán; nhà báo Phùng gia Lộc; nhà thơ Trần Dần; ông Nguyễn đình Huy; bác sỹ Nguyễn đan Quế v.v… Nhiều người nổi tiếng trong phong trào “nhân văn – giai phẩm” hụt hơi trong cuộc chạy marathon đã bỏ cuộc hoặc ngã ngựa; một số giữ được trọn vẹn tấm lòng kẻ sỹ cho đến chết như Quang Dũng, Bùi quang Đoài v.v… Một số vì còn sống sót trong “vụ án xét lại chống đảng” dựa vào khí thế của những người nói trên đi tiên phong, đã được sự ủng hộ và chỗ dựa vững chắc là cộng đồng người Việt ở hải ngoại, làm chiếc loa đánh động dư luận quốc tế rất hiệu quả, bấy giờ mới góp sức vạch tội ngụy quyền Hà-nội hiện nay. Cũng từ đó, dần dần có thêm nhiều lão thành “cộng sản” ngay thẳng, có cuộc sống gần dân hoặc trở lại làm dân tham gia.

Nhưng, cái vốn quý nhất cần được bảo vệ, ủng hộ, khuyến khích là lực lượng trẻ, tiêu biểu là luật sư Lê chí Quang, thương gia Nguyễn khắc Toàn, nhà báo Nguyễn vũ Bình… Những cái đầu tàu này sẽ lôi kéo tuổi trẻ trong nước nhập cuộc.

Nếu không đề cao tinh thần trách nhiệm khi đưa tin, cứ bỏ tuốt luốt tất cả chung một rọ, có lẽ đến lúc nào đó, tên khát máu Nguyễn hà Phan cũng sẽ được đề cao như là nhân vật “đấu tranh cho dân chủ”, vì cách đây vài năm cuộc đấu đá nội bộ mafia đỏ khiến Nguyễn hà Phan bị lột chức ủy viên chính bộ mafia đỏ.

Rồi nữa, nếu Dương bạch Mai, Ung văn Khiêm, Bùi công Trừng, Nguyễn văn Trấn v.v… được đề cao như là một loại “yêu nước” thì chắc những kẻ ngã ngựa trong đấu đá nội bộ bọn mafia đỏ như Tố Hữu, Nguyễn chí Thanh, Trần Phương, Trần Quỳnh, Cao sĩ Kiêm v.v… cũng sẽ lần lượt được đề cao?!!!

Cách đây một năm thôi, ông Trần Khuê, cây bút chống đối trong nước còn “ca ngợi”, “trích dẫn” lời Lê khả Phiêu mà không thấy rằng hắn đang học múa lại bài võ của họ Hồ theo kiểu “voi đú chuột chù đú theo”, nghĩa là nói thì ra vẻ lắm, mà làm thì lại nâng tên trùm tham nhũng Phạm thế Duyệt lên ngay bên hắn, ở vị trí thứ hai!!! Ngay sắc sảo như nhà văn Dương thu Hương cũng trật lất khi nhận xét về tên con hoang Nông đức Mạnh!

Nói chung, cộng đồng người Việt ở hải ngoại được mặc nhiên thừa nhận là cái mộc bảo chứng “mác chống đối” cho những cây bút chống đối ở trong nước. Nhưng nói riêng, vẫn có những cá nhân hoặc vài ba nhóm nào đấy thuộc loại “phi điểu phi thú”. Xưa “chống cộng” hời hợt, nay “chống cộng” với lập trường mơ hồ, giả tỉnh giả mê ăn tiền. Xin đưa một thí dụ cụ thể: Võ nguyên Giáp, đại tướng ngụy quân cộng sản, bị đồng bọn cho về vườn, nay bày đặt viết hồi ký. Ấy thế mà ở hải ngoại đã có ngòi bút nâng bi rồi. Ca ngợi “thịnh tình của đại tướng Võ nguyên Giáp với văn nghệ” là ân cần trích dẫn: “Một chiến sỹ tài hoa trong đoàn quân Tây tiến ngày đó, sau này là nhà thơ Quang Dũng”, đã có những câu thơ:

Tây tiến đoàn quân không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà-nội dáng kiều thơm.

Rồi chợt nhớ rằng năm 1956, Quang Dũng bị Tố Hữu phê phán bài thơ “Tây tiến” đó và bị đánh không ngóc đầu lên được, không được sáng tác cho đến chết! (Xin lưu ý bạn đọc rằng, Quang Dũng giỏi cả thơ, văn, họa và cả võ nữa). Cũng năm 1956 đó thì Võ nguyên Giáp đang ở đỉnh cao của vinh quang. Vậy mà Giáp có thèm biết đến Quang Dũng là cái gì đâu. Còn sau năm 1970, Giáp ở thế lép vế đến mức Phạm huy Thông còn dám cắm cho Giáp một cặp sừng, vậy mà Giáp dám đưa tay đỡ cho tên trung tá, bác sỹ riêng của Giáp, được về giữ chức giám đốc sở y tế Hà-nội, can tội dùng quyền cưỡng bức một nữ y tá trẻ ở bệnh viện St. Paul (Hà-nội) phải hiến thân cho hắn. Nhờ Giáp can thiệp, tên trung tá vẫn nguyên chức, chỉ có cô y tá bị đuổi việc.

Chuyện rành rành như thế, mà “ngòi bút nâng bi” cố bào chữa cho Giáp rằng: “Ông đại tướng không có thẩm quyền gì trong việc phê phán văn học”.

Viết ngu đến như thế mà cũng dám cầm bút! Vậy trong hồi ký, Giáp trích bốn câu thơ trên của Quang Dũng và khen, là đang làm cái gì? Có phải phê phán văn học không?

Lý luận kiểu đó nên mới dám viết về việc trưa ngày 30-4-1975, tên nằm vùng Trịnh công Sơn đã ôm đàn lên đài phát thanh của ngụy quân cộng sản hát bài hắn sáng tác, mang tên “nối vòng tay lớn”, rằng: “Thật ra anh có hát hay không hát thì chế độ VNCH cũng tan rã”!!!

Chính những ngòi bút “thùng rỗng kêu to”, có căn “nịnh bợ” đó, đã trộn lẫn thật giả, tô hồng, bóp méo làm nhiễu loạn thông tin, phí giấy phí mực, công sức của cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Rồi sợ mọi người biết tẩy của Giáp là thằng hèn, tận sau khi Quang Dũng đã về trời từ lâu, và chuyện “nhân văn – giai phẩm” đã thành cổ tích, Giáp mới lưu manh đưa Quang Dũng vào “đánh bóng” cho tập hồi ký, hòng lừa thế hệ trẻ, “ngòi bút nịnh ở Paris” cố công bào chữa hộ “ông không phải là người đãi bôi, và ở địa vị, tư thế, tuổi tác ông, không việc gì phải đãi bôi.” Ghê không! Giọng lưỡi hệt vệ sỹ của Giáp.

“Văn là người”, đọc những dòng trên có thể biết đó là hạng người như thế nào!!!

Cho nên cần cẩn thận khi đọc, khi đề cao những nhân vật chống đối trong nước. Đồng thời nên vô hiệu hóa những ngòi bút bẩn, xin cơm thừa canh cặn của mafia đỏ, đang múa may ở hải ngoại.

Việc nâng bi, vinh danh ồn ào bộ mặt đại Việt gian như Hồ, bộ mặt đao phủ Võ nguyên Giáp, Dương bạch Mai, Ung văn Khiêm, Trần văn Giàu, Nguyễn văn Trấn, Hoàng văn Thái, Lê trọng Tấn v.v…; những bộ mặt trí nô cung đình mafia đỏ Cù huy Cận, Xuân Diệu, Hoài Thanh; bộ mặt mật vụ, phản bội “xanh vỏ đỏ lòng” Trịnh công Sơn; cho đến Nguyễn Duy, kẻ đi đâu cũng đọc bài thơ hắn sáng tác, đại ý trong khi ngụy quân cộng sản vào xâm lăng miền Nam Việt Nam, hắn bị một “tên biệt động quân” bắn, chút xíu hắn bị bể sọ. Hắn cầm súng định bắn lại, nhưng rồi hắn chỉ đuổi để bắt sống (vì nhân đạo). Vào nhà người ta ăn cướp mà phách lối thế đấy!!! Vậy mà, một số “phóng viên” ở hải ngoại đã phỏng vấn cho hắn ăn nói mất dạy như vậy mà giả mù, giả điếc đề cao! Thật khó hiểu!!!

Thử đặt câu hỏi, về vai vế Võ nguyên Giáp còn trên Nguyễn chí Thanh, vậy mà tại sao Giáp lại chịu để Thanh “nhéo tai, bóp mũi” như thế? Về sau này, các đàn em cấp dưới của Giáp cũng “khinh” Giáp?

Bây giờ đã có nhiều bằng chứng để lý giải chuyện đó. Một là, Giáp khi còn đi học, tham gia biểu tình bị thực dân Pháp bắt và kết án tù 18 tháng. Nhưng mới ở có ba tháng thì được tha lại còn tiếp tục đi học, vì Giáp đã “đầu hàng”, đã làm đơn xin “mẫu quốc” cho học để phục vụ “mẫu quốc” và vì thế được tên chánh mật thám của thực dân Pháp ở Đông-dương lúc ấy, là Marti, nhận làm con nuôi. Hai là, có thể đi đến kết luận là khi Hồ bảo Giáp bỏ học trường võ bị Hoàng-phố (Tàu) về giúp Phùng chí Kiên trong trung đội vũ trang tuyên truyền, thì, dù là theo gợi ý của Hồ, nhưng Giáp là kẻ trực tiếp bán Phùng chí Kiên cho mật thám Pháp. Còn chuyện bê bối, đĩ bợm, lãng phí quan cách v.v… của Giáp thì khỏi nói, đúng là “học trò giỏi” của họ Hồ. Và, tài cầm quân của Giáp thì: chiến dịch biên giới 1950, có đại tướng Trần Canh của Trung cộng chỉ huy giùm; trận Điện-biên-phủ có nguyên soái Vi quốc Thanh, đại tướng Trần Canh và thiếu tướng La quý Ba của Trung cộng chỉ huy hộ. Riêng trận Vĩnh-yên 1951, Giáp đích thân chỉ huy thì giống như Tết Mậu Thân (1968) sau này vậy. Đấy chính là những hòn sỏi trong miệng Giáp, khiến Giáp lúng búng, không dám đụng. Và, vì thế, dù Giáp có công phò tá Hồ nhưng Hồ vẫn không thể ban cho Giáp cái lon “nguyên soái”.

Thời kỳ phong trào “nhân văn – giai phẩm”, Võ nguyên Giáp đang là ngôi sao sáng và cũng như Phạm văn Đồng, được mấy anh “nâng bi” ca ngợi là người yêu quý trí thức. Thế nhưng Giáp không hề “an ủi” một ai, chứ đâu cần phải che chở, từ Hoàng Cầm, Trần Dần đến Quang Dũng, tuy tất cả đều ở dưới quyền Giáp. Cũng như thế, các đại tá chánh văn phòng; cục trưởng quân báo của Giáp không hề được Giáp “minh oan” khi họ bị Nguyễn chí Thanh cho bắt.

Tại sao? Bởi Giáp biết rằng tất cả những việc ấy đều do lệnh của Hồ, chứ không phải “không có thẩm quyền gì trong phê phán văn học” như nhà báo “thùng rỗng” ở Paris đã viết.

Cái sự ngậm miệng của Giáp cho đến tận năm 2000 mới dám nhớ tí chút đến Nguyễn Tuân, Quang Dũng, trong hồi ký, mà lại nhắc đến những húy kỵ của thời đánh “nhân văn – giai phẩm”, như bài thơ “Tây tiến” của Quang Dũng, như “Tùy bút kháng chiến” của Nguyễn Tuân, rõ ràng là thuở đó Giáp phải bị “sợ đến cấm khẩu” luôn. Kẻ đó, ngoài Hồ, làm Giáp sợ còn là ai nữa?!!!

Cho nên phải thấy Hồ mới là “đầu não” gây nên tội ác về cái gọi là đánh “nhân văn – giai phẩm”. Trường Chinh, Nguyễn chí Thanh, Hoàng văn Hoan, Tố Hữu chỉ là những tên đao phủ thừa hành trong vụ án “nhân văn – giai phẩm mà thôi.

Lại nữa, thử đặt câu hỏi: Tại sao Võ nguyên Giáp cũng né không đả động đến cái gọi là “vụ án xét lại chống đảng”, mà trong đó có biết bao đàn em, trong ngụy quân cộng sản của Giáp dính trấu, như tướng Đặng kim Giang, tướng Nguyễn văn Vịnh, tướng Lê Liêm, các đại tá Lê vinh Quốc, Đỗ đức Kiên, trung tá Văn Doãn v.v…

Câu trả lời cũng giống như trên, nghĩa là Võ nguyên Giáp biết rằng Lê đức Thọ chỉ thừa hành khẩu lệnh của Hồ để trừng trị nhóm “chống nghị quyết 9 xin bảo lưu ý kiến”, bị chụp cho cái nón cối “vụ án xét lại chống đảng, làm gián điệp cho nước ngoài”.

Vì thế, những nạn nhân trong vụ “nhân văn – giai phẩm” cũng giống hệt những người bị quy tội “xét lại chống đảng, làm gián điệp cho nước ngoài”, khi bị bắt thì kêu oan mà chẳng đi tới đâu. Đến khi được tha thì cũng mập mập mờ mờ. Mấy đời “tổng bí thư” đều tránh né nói rõ nguyên nhân, chỉ muốn cho chìm xuồng trong yên lặng!

Một câu hỏi nữa lại được đặt ra: Tại sao người ta lại kết tội Lê đức Thọ và Lê Duẩn, thậm chí người ta còn “chứng minh” rằng họ Hồ cũng là nạn nhân của sự lộng quyền của hai anh chàng họ Lê ở trên đã có lý giải, nay xin nói rõ hơn.

Không phải tất cả đều mơ hồ về sự nhúng tay của Hồ mà Lê Duẩn và Lê đức Thọ chỉ là kẻ thừa hành lệnh của Hồ. Bởi vì người ta vẫn tự hào cái quá khứ kháng chiến chống Pháp, mà không nhìn ra hoặc không đủ can đảm để nhìn ra rằng cái gọi là kháng chiến chống Pháp từ đầu 1952 thực tế chỉ là nằm trong lịch trình thay thầy đổi chủ. Nghĩa là thay thực dân Pháp bằng thực dân đỏ Nga-xô, mà kết quả đã cho thấy thực dân đỏ còn tàn bạo gấp vạn lần thực dân Pháp. Một điều rõ ràng nhất, là nhiều trí thức do Pháp đào tạo đã trở thành những người yêu nước nồng nàn như Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Trần Trọng Kim, bác sỹ Trần Văn Lai v.v… Còn trí thức do “thực dân đỏ” (cả Nga-xô và Trung cộng) đào tạo thì đều thành lũ gia nô hay nói như Dương thu Hương là “trí thức mang trái tim chó”, hay nói như Mao trạch Đông là “không bằng cục cứt”. Và ngay những trí thức của Pháp đào tạo, đã có những lúc sống đẹp và hào hùng, khi kết hợp với thực dân đỏ cũng thành hèn, thành gia nô. Những điển hình là Phan Anh, Huỳnh văn Tiểng, Mai văn Bộ, Nguyễn văn Huyên, Hoàng minh Giám, Kha vạng Cân, Trần đăng Khoa, Nghiêm xuân Yêm, bác sỹ Phạm khắc Quảng, bác sỹ Trần duy Hưng, giáo sư Hoàng xuân Nhị, Bùi Kỷ, Phạm văn Bạch, luật sư Nguyễn thành Vĩnh và v.v… nhiều lắm, gần như trọn vẹn những ai chót mắc vào lưới nhện của Hồ (đại diện của thực dân đỏ).

Nếu thẳng thắn nhìn vào bộ mặt Việt gian của Hồ thì có nghĩa là phải chặt bỏ hết cả cuộc đời, phải thừa nhận tội đồng lõa với Hồ. Điều này không phải dễ dàng. Phải có dũng cảm như ông Nguyễn Hộ mới dám đoạn tuyệt với cái quá khứ đó.

Cho nên (dù là nạn nhân của Hồ) người ta vẫn phải đề cao Hồ, cố nhắm mắt bỏ qua mọi bằng chứng tội ác rành rành của Hồ mà họ có phần góp sức, để tấn công vào Lê Duẩn và Lê đức Thọ, cũng như tụi đầu nậu sau này. Họ không thấy rằng hầu hết nhân dân Việt Nam bị Hồ lừa, ở các mức độ khác nhau. Cho nên bị lừa nhiều hay bị lừa ít chỉ biểu thị là nạn nhân nhiều hay nạn nhân ít trong các hành động tội ác của Hồ mà thôi. Sau này khi nhắm mắt xuôi tay, có muốn nói, muốn viết cũng chẳng được. Lịch sử sẽ phán xét công bằng và sáng suốt.

Nhưng, cái tai hại cực kỳ nghiêm trọng cho toàn dân Việt Nam lúc này lại chính là việc tiếp tay với tập đoàn mafia đỏ đương quyền đề cao họ Hồ.

Việc làm này, như trên đã phân tích, đã và sẽ làm chững lại phong trào vùng lên của nông dân, vì họ hy vọng sẽ có sửa sai để đi đúng con đường của Hồ. Bọn cơ hội đi hai hàng ở hải ngoại lại làm nhiễu thông tin để sức mạnh dư luận quốc tế bị lái lệch hướng. Còn tập đoàn mafia đỏ cầm quyền, cứ núp sau cái thây ma của họ Hồ (mà ngay những kẻ chống đối chúng và một số cây bút hải ngoại vẫn đề cao; một số báo, tạp chí giúp chuyển tải những sự đề cao Hồ có tính xuyên tạc đó) để “đại hội này sửa sai”, rồi “lại đại hội sau sửa sai” và cứ thế, người dân cứ việc chờ ăn bánh vẽ, còn chúng thay nhau làm “tổng bí thư”. Thí dụ cụ thể: Đỗ Mười nghe mãi câu chuyện tham nhũng của Phạm thế Duyệt, Nguyễn công Tạn, Võ văn Kiệt v.v… Mười lui cho Lê khả Phiêu, ấy thế mà Phạm thế Duyệt lại được Phiêu nâng lên thành nhân vật số 2; và băng của Phiêu xuất hiện một cây tham nhũng mới: tên trung tướng Phạm văn Trà. Đến khi Phiêu lui thì lại đến Nông đức Mạnh lên, những bộ mặt tham nhũng cũ không bị đụng cọng lông chân như Kiệt, Tạn, Duyệt, Cao sĩ Kiêm, Nguyễn tấn Dũng, Trương tấn Sang, Lê xuân Tùng v.v… Riêng Phạm thế Duyệt, không nằm trong trung ương mafia đỏ nữa, nhưng vẫn ngồi cái ghế loại cha bố của xã hội chủ nghĩa đỏ. Đó là Duyệt giữ chức chủ tịch đoàn chủ tịch Mặt trận tổ quốc trung ương!!! Và, lần đầu tiên trong lịch sử ngoại giao Việt Nam (mà cũng là cả thế giới), nhân vật loại 2 của Bắc triều là Lý Bằng đến Việt Nam, mà cả ba đời “tổng bí thư mafia đỏ Việt Nam” ra sân bay quỳ lạy “sứ thiên triều”. Đó là ba tên Việt gian trong băng đảng của họ Hồ, lần lượt là Đỗ Mười, Lê khả Phiêu và Nông đức Mạnh, những đứa bán đất đai và biển của Việt Nam cho ba Tàu cộng, đúng như Hồ đã làm khi hắn còn chưa bị bắt giam ở hỏa ngục (âm ty).

Xin hỏi các cây bút “chống đối” ở trong nước, đã dũng cảm tố giác tội bán nước của bè lũ Đỗ Mười, Lê khả Phiêu, Nông đức Mạnh, Phan văn Khải, Trần đức Lương, Nguyễn văn An v.v… sao không thấy rằng chúng đi đúng đường lối của Hồ đấy. Sao kết tội chúng mà không kết tội Hồ?

Cái chưa bao giờ hiện hữu là “chủ nghĩa Hồ chí Minh” thì nhìn ra và mô tả cứ như mấy nhà văn, nha thơ ba Tàu ngày xưa viết về “Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện”; còn tội ác bán nước, giết dân, đụ bậy, tham nhũng, lãng phí, đạo văn của Hồ thì còn bút tích; còn số liệu, tên người; còn nhân chứng; còn chứng cớ, hình ảnh; còn bằng chứng thì lại giả vờ hoa mắt không chịu nhìn ra!!!

Và, một điều trái khoáy nữa là chính Hồ, một thằng cha dám làm mọi việc “Trời không dung, Đất không tha”; một thằng tham danh, tham quyền, bất chấp thủ đoạn để đạt mục đích; một thằng tự đề cao một cách lố bịch và vô liêm sỉ dám phét lác là sẽ “”đưa năm châu đến đại đồng”, mà bản thân hắn không dám nhận mình đẻ ra “chủ nghĩa” gì. Thế mà có người lại nhìn ra “dê đực của Tô Vũ đẻ dê con”. Thật là đại tài nhưng lại đại tai cho nhân dân Việt Nam, nói chung!!!

(Xin mời đọc tiếp bài 15)

http://sutichconyeurauxanhovietnamhochiminh.blogspot.com/

Sự tích: Con yêu râu xanh ở Việt Nam – Hồ Chí Minh 13/18

Sự tích:

Con yêu râu xanh ở Việt Nam

* * * * *

Việt Thường

Bài 13

Nếu trước Tết Mậu Thân (1968), ngày “nhập ngũ” được coi là ngày hội, trống dong cờ mở, tặng lưu niệm v.v… thì sau đó ngày “nhập ngũ” biến thành ngày “bắt lính” thực sự. Địa điểm tập trung phải ở xa chỗ đông dân, và đại diện các đoàn thể đố dám ló mặt lên lớp động viên, dặn dò này nọ. Vũ Quang, bí thư thứ nhất cái gọi là “đoàn thanh niên lao động Hồ chí Minh” đã nhiều lần bị nghe chửi khi đến các nơi tập trung tân binh để động viên, nên sau này cho ăn kẹo cũng không dám vác mặt đến chỗ tập trung tân binh. Nhất là từ ngày tân binh thuộc khu Hoàn Kiếm (Hà-nội) đã chửi Vũ Quang như móc họng, rằng: “Đ… mẹ thằng hiếp dâm vợ người, sao không cho hai thằng con của mày đi làm nhiệm vụ quang vinh này mà lại cho chúng đi Nga, đi Đức học!!!”

Ô-tô chở tân binh cũng rất chật vật, vì họ phá ghế xe, cửa kính, và còn giấu gạch củ đậu ném vào đám đông. Những cuộc chuyển quân vào khu bốn để rồi từ đó thâm nhập miền Nam Việt Nam, hầu hết bằng tàu hỏa, mà đi lúc nửa đêm. Các tàu hỏa bị đóng cửa như chở thú vật. Hai đầu toa tàu có lính mang tiểu liên áp tải, sẵn sàng nhả đạn nếu ai định mở cửa bỏ trốn. Tuyến đường sắt từ Văn-điển (Hà-nội) vào đến Hàm Rồng (Thanh-hóa) lính ngụy nằm phục kích, đề phòng tân binh nổi loạn, cướp tàu.

Cũng từ đó, ngụy quyền Hồ chí Minh đẻ ra cái gọi là “đơn vị giao quân”. Đó là tổ chức của ngụy quân được trang bị hầu hết tiểu liên, có nhiệm vụ “áp giải” lính đưa vào Nam (gọi là đi B), và thường giao quân ở bờ phía Nam bến phà Linh Cảm, rồi chúng quay lại nhận đợt tân binh khác. Tất nhiên lính bị đưa vào Nam hoàn toàn không có vũ khí. Phải vào đến phần miền Nam rồi mới được trang bị để đi làm bia đỡ đạn thi hành “sự nghiệp” của Hồ. Thời kỳ ngụy quyền Hà-nội xâm lăng Căm-bốt, Lê khả Phiêu làm nhiệm vụ tải lính sang Căm-bốt cho Lê đức Anh nướng. Với thành tích đó, Phiêu đã leo lên đến địa vị số 1 của mafia đỏ.

Sau vụ Mậu Thân (1968), nhiều tân binh vẫn tìm cách không chịu đóng vở kịch “sinh Bắc tử Nam” của ngụy quyền Hồ chí Minh, khiến chúng phải lập một nhà tù ở Lai-châu để giam giữ, bắt lao động khổ sai những tân binh đó, mà chúng gọi là “lính B quay”.

Điều đó minh chứng Hồ đã dùng “chuyên chính” để bắt lính chết cho chiến lược bành trướng của thực dân đỏ. “Ông tiên” của Lữ Phương thực sự là kẻ tội phạm tàn bạo nhất, đã cưỡng bức nhân dân miền Bắc và nhân dân miền Nam bắn giết nhau vì tham vọng ích kỷ của hắn, tức cái “sự nghiệp Việt gian” của hắn.

Vụ Mậu Thân (1968) đã cho thấy sự trả thù đê hèn, khát máu của ngụy quyền Hồ chí Minh, lên người dân ở Huế, có sự chỉ điểm, đồng lõa của những tên nằm vùng như anh em Hoàng phủ Ngọc Tường, Lê văn Hảo v.v… Còn ở Sài-gòn, chẳng biết Lữ Phương đã góp công như thế nào để dzọt ra bưng được gia nô của “anh hùng giải phóng dân tộc” của Lữ Phương ban cho cái chức “thứ trưởng” hữu danh vô thực, hệt như mấy anh “lý trưởng mua” thời thực dân Pháp. Còn tên nằm vùng Trịnh công Sơn, vẫn tiếp tục sáng tác nhạc “phản chiến”, đóng góp rất tích cực và hiệu quả một trong “ba mũi giáp công” của họ Hồ. Viết nhạc đủ cả mây, gió, lá lủng, nhưng tuyệt đối như mù không thấy nắm mồ tập thể ở Huế để cất lên dù là chỉ một tiếng thở dài. Nhưng khi ngụy quân mafia đỏ lết xích xe tăng trên đường phố Sài-gòn, thì ngay buổi phát thanh đầu tiên của ngụy quân mafia đỏ vào chiều 30-4-1975, Trịnh công Sơn đã hồ hởi ôm đàn hát bài hắn sáng tác: “Nối vòng tay lớn”. Và, ít lâu sau hắn còn ra viếng lăng Hồ. Cha ông ta đã dạy là: “đồng thanh tương ứng”, nên chỉ những kẻ cùng tần số với Trịnh công Sơn mới thương khóc khi hắn bị Diêm Vương tống vào hỏa ngục!!!

Còn ngụy quyền Hà-nội, từ lúc Hồ còn sống cho đến nay, chưa bao giờ chúng cho việc giết dân thường như thế là sai. Nên, còn e ngại, ở Sài-gòn chúng chưa làm, nhưng ở Cần-thơ, chúng đã đặt tên một đường phố là Mậu Thân, tự hào chiến tích giết dân của Hồ! Lữ Phương và những tên than khóc, vinh danh tên mật vụ nằm vùng Trịnh công Sơn có biết điều đó không?(!!!)

*****

Sau thất bại thảm hại của vụ Tết Mậu Thân (1968), Hồ vừa hằn học vì thất bại, vừa bắt đầu ngày đêm tính toán lá tử vi của hắn, cũng như của đứa con hoang với cô bé đưa cơm ở hang Pắc-bó. Hắn lén lút đi Ba-vì nhiều lần, ngắm Hồ Suối hai, là công trình mà hắn lệnh cho Trần quốc Hoàn (bộ trưởng công an) phải bắt tù làm cho xong như ý hắn, cho đúng với bộ vì miếng đất mà hắn đã lén chôn tất cả những cái răng thật của hắn (vì Hồ làm cả hai hàm răng giả ở Nga-xô), hy vọng phát cho đứa con hoang của hắn.

Hồ là người mê và đọc nhiều truyện của Tàu. Một vài người thân cận với Hồ có dịp được nghe Hồ khen hai nhân vật. Một là Tấn văn Công (tức công tử Trùng Nhĩ), và hai là Tào Tháo. Thuở của năm 1944-46, Hồ cho tay chân tung tin là mắt Hồ có hai con ngươi như công tử Trùng Nhĩ (kẻ phải bôn ba 20 năm, trở về cầm quyền nước Tấn và làm nên nghiệp bá). Một trong những kẻ có công tung tin như thế là Xuân Thủy. Còn Tào Tháo, tên tự là Mạnh Đức, Hồ bèn đảo ngược, đặt tên cho thằng con hoang, hy vọng nó sẽ làm nên như Tào Tháo. Vài người biết chuyện này nói đùa với nhau rằng: “Đảo ngược tên của Tào Tháo đặt cho thằng con hoang, Hồ ngu mà không thấy rằng rồi ra thằng đó sự nghiệp cũng sẽ giống như sự nghiệp của Tào Tháo bị đảo ngược. Nghĩa là, Tào Tháo thì từ một cái vỏ gươm (vì lưỡi gươm đã dâng Đổng Trác) và con ngựa già làm nên sự nghiệp. Còn thằng con hoang của Hồ thì dù gia nô của Hồ có đặt sẵn nó lên cái ghế lãnh đạo thì sự nghiệp tương lai sẽ chỉ còn “cái vỏ gươm và con ngựa già” mà thôi!!!

Vài năm trước đây, một số nhà báo và giáo sư sử học ở trong nước có lên tiếng than phiền việc đỉnh núi Tản Viên bị “nhà cầm quyền” địa phương san đi làm miếu thờ. Mafia đỏ mà “làm miếu thờ” thì phải có nguyên nhân thầm kín. Mấy vị nhà báo và giáo sư không hiểu rằng việc làm đó được tiến hành sau khi họ Nông dzọt lên chức chủ tịch quốc hội ngụy quyền Hà-nội, và vào cả bộ chính trị của mafia đỏ nữa. Đấy là nằm trong “lịch trình” của Hồ trước khi chết để lại, không có trong di chúc.

Cả cuộc đời Hồ, hai bàn tay đã vấy đầy máu của nhân dân Việt Nam, của những người Việt Nam đấu tranh cho độc lập, tự do, dân chủ, hạnh phúc và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; cả máu những ân nhân của Hồ; cả máu những “đồng chí” của Hồ, và cả máu trinh của biết bao cô gái trẻ đã phải qua tay con “yêu râu xanh” Hồ chí Minh ấy thế mà con quỷ đỏ Hồ chí Minh, sau vụ thất bại của Tết Mậu Thân (1968) đã sợ chết. Việc viết đi viết lại “di chúc” không phải như lũ bút nô cung đình của Hồ và vài anh “trí thức mọt sách, táo bón kiến thức” tỏ vẻ là Hồ “thanh thản” trước “ngày đi xa”. Chỉ riêng cái việc Hồ né chữ “chết” cũng đủ thấy hắn sợ “chết” đến như thế nào. Hắn tự an ủi là “đi thăm Các-mác, Lê-nin”. Cái điểm son tinh thần Việt gian, trung thành với mẫu quốc đỏ cho đến giờ phút cuối cuộc đời và lời căn dặn ân cần cái tổ chức Việt gian của hắn, rằng phải bảo vệ mẫu quốc đỏ, nên hắn đã được Nga-xô tận tình giúp đỡ ướp xác, xây lăng, vào cái lúc mà cuộc không chiến trên miền Bắc Việt Nam đang ở cao điểm!

Mấy nhà “hư cấu” cố tình chạy tội cho Hồ, dựa vào nội dung “di chúc của Hồ” và tin lọt từ me-xừ Vũ Kỳ, một gia nô tin cẩn của Hồ, trung thành hơn loài bốn chân, để nói rằng nhóm Lê Duẩn đã làm trái nguyện vọng của Hồ là “hỏa thiêu và đừng làm tang lễ linh đình”, v.v…

Cần phải nhớ rằng:

Bản thân Hồ và cái tập đoàn Việt gian của hắn chưa bao giờ làm những gì mà thảo thành văn bản. Hồ cũng như tụi kế nghiệp hắn cho đến nay là Nông đức Mạnh đều làm những điều không tuyên bố công khai.

Thí dụ:

+ Hồ nói là “bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam” thì hắn lại dâng “Hoàng-sa” cho Tàu cộng. Tất cả những gì Hồ viết trong bản tuyên ngôn độc lập “đọc ngày 2-9-1945” chưa bao giờ được Hồ thi hành. Hắn còn làm ngược lại là đằng khác, vì hắn viết cốt để dụ khị lừa đảo nhân dân lúc đó cũng như các thế hệ sau này mà thôi. Thằng con hoang họ Nông của hắn bây giờ cũng thế, đi sang Tàu vừa qua là dâng đất cho Trung cộng.

+ Hồ nói chống tham ô, hủ hóa thì chính hắn là thằng trùm hủ hóa, và những kẻ kế cận của hắn cũng thế. Khù khờ và cái chết kề miệng lỗ như Tôn đức Thắng mà cũng cho xây một biệt thự ở Hải-dương, đóng cửa bỏ đấy, ngay lúc chiến tranh đang ác liệt, dân thiếu ăn, thiếu mặc. Võ nguyên Giáp cũng thế, bao nhiêu biệt thự ở Đồ-sơn không chịu ở, bắt công binh xây mới biệt thự cho hắn, mà phải phá đi xây lại nhiều lần cho đến khi hắn vừa ý mới thôi.

+ Thằng con hoang họ Nông cũng nói chống tham nhũng, nhưng ai mà ủng hộ và phát hiện tham nhũng thì bị đàn áp, bỏ tù. Còn xung quanh nó, có thể nói toàn bộ cái chính trị bộ mafia đỏ của hắn đều có tài sản ăn cắp chí ít cũng hàng trăm triệu đô-la Mỹ mà có thấy chống đâu, mà còn hợp tác toàn diện là đằng khác.

Nếu quả Lê Duẩn đã làm sai ý nguyện của Hồ thì bây giờ bọn chúng sửa lại cái sai của Duẩn đi, cho hỏa thiêu cái thây ướp của Hồ hoặc đem chôn, rồi làm mả cho lớn cũng được. Đằng này, chúng vẫn duy trì cái gọi là “sai” của Duẩn, mà còn làm “quá đáng” hơn nữa là thành lập một bộ tư lệnh bảo vệ lăng, chỉ riêng tiền nuôi đám lính tráng đó cũng tốn cả trăm tỷ mỗi năm; rồi lại bày trò làm lễ chào cờ hằng ngày cũng như bảo vệ cái thây ma Hồ cũng tốn kém rất nhiều nữa.

Tại sao chỉ có Vũ Kỳ nói là Lê Duẩn sai mà mấy thằng thay nhau làm tổng bí thư không dám sửa cái sai đó mà còn làm sai hơn nữa? Đúng như kiểu kết tội Lê Duẩn, Lê đức Thọ về “vụ án xét lại chống đảng”. Đấy nếu không là lệnh miệng của Hồ (lệnh thiệt, còn lệnh trên giấy tờ là lệnh rởm để tuyên truyền mà thôi) thì sao bây giờ họ Nông nắm quyền lực cao nhất, không ra lệnh làm theo “di chúc” cha của hắn, mà vẫn duy trì, còn bày thêm trò dâng hương ở tất cả mọi nơi đánh dấu bước chân Việt gian của Hồ.

Rành rành như vậy mà vẫn cố tình mặc áo “chống đối” để làm việc “chống đỡ”, thật là vừa ngu vừa hèn!!!

*****

Việc Hồ giết Nguyễn chí Thanh và yêu cầu Trung cộng rút công binh về nước là biểu hiện cụ thể cả tư tưởng lẫn hành động của Hồ luôn luôn thống nhất với “di chúc” của Hồ là chỉ nghĩ đến mẫu quốc đỏ Nga-xô và bảo vệ Nga-xô. Hồ hoàn toàn không nghĩ gì đến Tổ tiên Việt Nam. Ngay nội dung cái “di chúc” của Hồ cũng giống mọi điều hắn đã nói và viết, đều nhằm một mục đích duy nhất là lừa đảo lòng tin của nhân dân Việt Nam nói chung kể cả các “đảng viên thường” trong tổ chức mafia đỏ của hắn. Hồ thân Nga-xô hay thân Trung cộng, chắc chắn điều đó cả Nga-xô và Trung cộng đều biết rõ hơn mấy chàng “hư cấu”. Hãy chịu khó đọc lại lời chia buồn khi Hồ chết của Nga-xô và Trung cộng được đăng trên báo Nhân dân, cơ quan nói láo của ngụy quyền Hà-nội, thì sẽ rõ trắng đen! Ai tiếc Hồ và ai ghét Hồ!!!

Tội ác của Hồ không chỉ phát động vũ trang xâm lược miền Nam Việt Nam, chấp nhận để nhân dân và đất nước Việt Nam thành vật thí nghiệm và nơi thử nghiệm các loại vũ khí, các chiến lược, chiến thuật quân sự, nơi cho Mỹ và Nga-xô tìm cách làm “chảy máu” của nhau. Hồ vẫn tiếp tục thi hành nhiệm vụ mà mẫu quốc đỏ trao cho khi thành lập tổ chức mafia đỏ, năm 1930, mang tên “đảng cộng sản Đông-dương”. Nghĩa là hắn cho tiến hành vũ trang xâm chiếm cả Căm-bốt và Lào.

Ai có dịp qua thăm huyện Lương-sơn (Hòa-bình) sẽ thấy nhiều trường tập trung dành cho thiếu nhi mà ngụy quyền Hồ chí Minh cho bắt làm con tin, mang từ miền Nam ra, nhất là các em thuộc sắc tộc Khờ-me; mang từ rừng núi Tây Nguyên và Khu năm ra; mang từ Căm-bốt và Lào ra. Từ Hênh Xôm-brin cho đến Hun-xen (thủ tướng Căm-bốt hiện nay) đều ăn học và được đào tạo tại Bắc Việt Nam. Những trẻ em thuở đó được đào tạo để sử dụng hiện nay vậy. Và, thuở đó những gia đình có con em bị đưa ra Bắc, bắt buộc phải hợp tác với mafia đỏ, nghĩa là làm cái việc “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”. Cái hoạt động ấy tất yếu dẫn đến cuộc chiến của mafia đỏ Việt Nam bành trướng sang Căm-bốt và cuộc đụng độ với Ba Tàu cộng ở phía Bắc vào năm 1979!

Tóm lại là, Lê Duẩn chỉ đi theo đúng cái “lịch trình” mà Hồ đã vạch ra khi hắn còn sống, và tiếp tục cái “lịch trình” đó một cách trung thành sau khi Hồ ngỏm!

Kiểu lý luận như Lữ Phương, thì tội xâm lược Việt Nam thời Trần của quân Nguyên-Mông, là do Thoát Hoan chứ vua Nguyên chắc không có tội!

Việc tụi được mafia đỏ phong cho là “trí thức yêu nước” thuở trước 1975, thật ra bọn đó chỉ là một lũ không bằng con chó của Lafontaine, thả mồi bắt bóng. Bởi con chó bị lầm vì nhìn thấy cái bóng dưới nước. Còn lũ này đâu có nhìn thấy cái “bóng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” đâu vậy mà “thả mồi dzô bưng”.

Xưa, kẻ sỹ một lần “bàn sai” là vô bưng ở ẩn! Vậy mà nay vẫn tồn tại loại “kẻ sỹ” ở bưng nhào ra khua môi, múa bút không biết mỏi mà “đầu trắng vẫn trắng tay”, chẳng ra mafia đỏ cũng chẳng ra chống mafia đỏ; “phi điểu phi thú” như con dơi, tốt nhất là nên trốn trong bóng tối mà ăn muỗi!!!

Năm 1979, Trung cộng có thể dám lùa quân, bất ngờ và nhanh chóng, tiến sâu vào nội địa Việt Nam được dễ dàng, tàn phá, giết bao người dân miền Bắc Việt Nam chính là cái hậu quả tội ác Việt gian của Hồ, đã để Trung cộng đưa quân sang làm đường để di chuyển dễ dàng, để nắm được địa hình, địa vật, tâm lý nhân dân. Và, hơn nữa cái bánh vẽ của Hồ làm dân mất cảnh giác, đó là những khẩu hiệu như “tình huynh đệ bền vững”, nào là “môi với răng”, nào là “tinh thần đoàn kết vô sản cao cả”; nào là như bài hát:

“Việt Nam, Trung hoa

Núi liền núi, sông liền sông

Hồ chí Minh, Mao trạch Đông”.

Những người ở Hà-nội vào năm 1969, làm sao quên được vụ 1-5-1969. Ngày hôm đó từ tinh mơ, học sinh trường trung học Trung hoa dưới sự điều động của “hồng vệ binh”, mang trên tay sách đỏ trích lời Mao. Tất cả đều đeo lung lẳng trước ngực huy hiệu của Mao, to bằng lòng bàn tay, tụ tập cùng Hoa kiều trong hội Hoa liên, để mít-ting chào mừng ngày “quốc tế lao động (1-5)” kết hợp với “ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cứu nước”. Đấy là lý do công khai để tụ tập. Nhưng sự thực là sứ quán Trung cộng đã chỉ đạo để biến cuộc biểu tình này thành cuộc đập phá sứ quan Nga-xô. Được tin này, Trần quốc Hoàn (bộ trưởng công an ngụy quyền Hà-nội) te tái báo cáo Lê Duẩn, Trường Chinh và Phạm văn Đồng xin ý kiến giải quyết. Cả bốn tên Việt gian chóp bu mặt xanh như đít nhái, vì nếu để sứ quán “anh cả Nga-xô” bị đập phá có khác gì bằng chứng chúng không có khả năng bảo vệ “Liên-xô thành trì cách mạng thế giới” như Hồ căn dặn và ghi trong các nghị quyết của chúng. Mà nếu dẹp biểu tình của “anh hai Trung cộng” thì cũng bỏ mẹ vì bọn chúng đã đập phá sứ quán Nga-xô đâu. Cả bốn tên quyết định vào xin ý kiến của trùm Hồ. Nên nhớ, giai đoạn đó Hồ đang bịnh. Mặt xưng lên, đi đứng phải có người dìu, và sau đó đúng 4 tháng thì Hồ chết lăn queo.

Khi Hồ được bọn Lê Duẩn báo cáo thì đoàn Tàu biểu tình đã qua Hàng Bông, gần tới cửa Nam, tức là đi bộ chừng 20 phút đồng hồ là tới sứ quán Nga-xô.

Con cáo già gần kề miệng lỗ vẫn còn ma mãnh hơn lũ đệ tử. Vừa nghe báo cáo dứt lời, Hồ ra lệnh “kéo còi báo động như có máy bay Mỹ vậy, đuổi hết đoàn biểu tình xuống hầm cho đến khi nào đoàn biểu tình mệt mỏi tự tan hàng ngũ, đuổi chúng quay về Hội Hoa liên hãy kéo còi báo yên.”

Ngày 1-5-1969 là ngày đầu tiên Hà-nội “báo động máy bay Mỹ” liên tục gần 6 tiếng đồng hồ liền. Với lý do thi hành lệnh phòng không bảo vệ tính mạng cho người đi đường, công an bỏ áo màu chó vàng, mặc thường phục, đóng vai “thanh niên cờ đỏ” cùng với “thanh niên cờ đỏ” thứ thiệt và tự vệ đường phố, đã nhã nhặn hướng dẫn đoàn biểu tình vào hết các hầm trú máy bay ở Cửa Nam, ở Ngõ Cấm Chỉ và suốt đường Phùng Hưng, đường Quán Sứ v.v… Cái nóng tháng 5, lại nằm trong hầm kín, nhiều tên biểu tình bị ngất vì thiếu không khí. Và, chỉ chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau, nhiều tên phải chui ra khỏi hầm, được “thanh niên cờ đỏ” hướng dẫn quay đầu trở lui về phố Hàng Buồm. Để cho chắc ăn, tận xẩm tối mới kéo còi báo an.

Chuyện này, nhà “trí thức yêu nước” Lữ Phương có thể hỏi nhiều người dân thường lẫn quan lại mafia đỏ ở Hà-nội hồi đó đều biết, chắc chắn kể cả gia nô tin cẩn của Hồ là Vũ Kỳ. Như vậy, là những việc quan trọng, cho tới ngày sắp chết Hồ vẫn được hỏi ý kiến và cho những lệnh quyết định chứ không phải “bị cho ra rìa” hoặc bị Lê Duẩn bắt Hồ phải tống cổ cô con gái Tây lai của Hồ về Pháp như người ta “hư cấu” để chạy tội cho Hồ, để gây lòng ái ngại cho Hồ mà tội nghiệp cho tên đại Việt gian, đại gian hùng loại siêu trong suốt bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam cho đến nay!

Gần cả năm trước khi chết, Hồ ra công soạn “di chúc” viết đi viết lại mà vẫn lưu bản nháp. Một con người như Hồ đã thể hiện bản chất nhất quán suốt đường đi của hắn đến quyền lực, làm sao không dặn dò tỷ mỷ mọi chi tiết rằng sau khi hắn chết thì phải làm gì.

Hồ từng hỗn láo khi đứng trước đền thờ Đức Thánh Trần, rằng:

“… Bác đưa một nước qua nô lệ

Tôi dẫn năm châu đến đại đồng…”

Một con người với khẩu khí như vậy, tự tay mình cướp được quyền lực cho bản thân và đồng bọn, sẵn sàng giết tất cả những ai trở ngại trên con đường đi đến quyền lực, làm sao có thể đóng vai Chúa Chổm để Lê Duẩn đóng vai Trịnh Kiểm! Cho nên việc xây lăng ở cạnh “phủ chủ tịch” là ý nguyện của Hồ. Hắn muốn làm cái việc của Lê-nin là “dẫn năm châu tới đại đồng” thế tất cũng muốn theo gương Lê-nin để có cái lăng và ướp xác nằm ngay giữa thủ đô. Lăng Lê-nin ở Quảng trường đỏ, gần điện Krem-lin, thì đương nhiên lăng họ Hồ ở Quảng trường Ba-đình và gần “phủ chủ tịch”. Khi sống hắn đã nghênh ngang đứng trên lễ đài bắt nhịp cho mọi người hô hắn “vĩ đại”, làm sao khi chết hắn lại chịu “không vĩ đại” bằng các vua nhà Nguyễn được chứ!

Còn một điều nữa, mà ngay những người không “nghiên cứu” nhiều về ngụy quyền mafia Hồ chí Minh cũng biết chí ít là trong ngụy quân cộng sản thì Võ nguyên Giáp và Nguyễn chí Thanh không ưa nhau; trong chóp bu mafia đỏ thì Lê Duẩn và Trường Chinh kình nhau. Nếu những nhà “hư cấu” cho rằng Hồ và Giáp cùng phe và bị nhóm Lê Duẩn, Lê đức Thọ kiềm chế. Như vậy là nội bộ chóp bu mafia đỏ có ba phe:

1. Lê Duẩn, Lê đức Thọ và v.v…

2. Hồ và Giáp và v.v…

3. Trường Chinh, Hoàng quốc Việt và v.v…

Thử hỏi rằng Hồ có phải là loại cù lần đến mức không biết liên kết với bọn Trường Chinh mà chơi lại nhóm Lê Duẩn hay sao? Thủ đoạn này chỉ là mẹo vặt làm sao so sánh với âm mưu thâm độc khác của Hồ!

Các vị “hư cấu” có bao giờ đặt ra các câu hỏi như:

– Tại sao đại hội 3 (1960) của mafia đỏ phải hoãn ba lần để đến 1976 mới tổ chức đại hội 4?

– Tại sao Hồ chết đi mà trong đảng mafia đỏ bỏ luôn cái chức “chủ tịch đảng”, và Lê Duẩn nếu là kẻ nắm trọn vẹn quyền lực sao không ngồi luôn cái ghế “chủ tịch nước” như Hồ, mà phải để hai anh già bù nhìn đỏ là Tôn đức Thắng và Nguyễn lương Bằng vào các chức vụ “chủ tịch” và “phó chủ tịch”?

Chẳng phải các vị “hư cấu” không biết chuyện đó cũng như không có khả năng giải đáp các vấn đề đó, mà vì các vị chót “hư cấu” ra cái chuyện “Hồ bị ra rìa” để chạy tội cho Hồ, nên há miệng mắc quai. Nào trích ý của một tên gia nô của Hồ là Vũ Kỳ và tên gia nô của Lê Duẩn là Trần Quỳnh, nhưng chẳng bao giờ nhìn vào sự thực trắng đen rõ ràng để phán đoán.

Sau đại hội 3 mafia đỏ (1960), phải hoãn 3 lần trước hết vì cả nhóm Lê Duẩn lẫn Trường Chinh đều quân bằng lực lượng trong bàn tay cầm cân, nẩy mực của Hồ. Cho nên nếu mở đại hội thì sẽ hỗn loạn về nhân sự vì đấu đá mà quên nhiệm vụ “chuyên chính” ở miền Bắc và xâm lược ở miền Nam. Bởi vậy “chủ tịch đảng” là Hồ không cho mở đại hội.

Sau khi Hồ chết, để lại cái “gia sản quân bình lực lượng” đó, nên cả Lê Duẩn, cả Trường Chinh đều không đủ hậu thuẫn tuyệt đối nên cũng chưa dám tổ chức đại hội và chưa đứa nào đủ mạnh để tranh lấy cái ghế “chủ tịch nước”, vì thế mới đến lượt Tôn đức Thắng và Nguyễn lương Bằng là hai tên “ngu si hưởng thái bình” như các cụ nhà ta xưa đã nói vậy. Cái ghế “chủ tịch đảng” cũng đành bỏ luôn.

Kể từ đó, hai nhóm Lê Duẩn và Trường Chinh đều ngấm ngầm bố trí nhân sự, ra mặt bao che tay chân. Thí dụ cụ thể, như việc Phạm văn Đồng “vô tình” vào Hà-tây, theo đơn khiếu nại của tập thể giáo viên ở thị xã Hà-đông, đã cách chức hiệu trưởng của mụ vợ của bí thư tỉnh ủy Hà-tây, là Bạch thành Phong. Sau đó Bạch thành Phong chỉ đạo đại hội đảng bộ của tỉnh để đề cử và bầu vợ hắn vào làm “tỉnh ủy viên” phụ trách trưởng ban tuyên huấn, nghĩa là mất chức hiệu trưởng mà lại được tiến cử lãnh đạo cả ba ty là giáo dục, y tế và văn hóa thông tin. Chuyện này được “báo cáo” cho cả Phạm văn Đồng và Lê đức Thọ, nhưng vẫn huề cả làng, vì Bạch thành Phong là đệ tử ruột của Trường Chinh và được Trường Chinh bao che.

Chuyện còn đi xa hơn nữa khi Lê Duẩn “đày” bà vợ cả “già và xấu” của Lê Duẩn xuống Hải-phòng, công tác ở báo Hải-phòng Kiến thiết, đã bị me xừ phó tổng biên tập uống mật gấu “vuốt râu hùm”. Chuyện đổ bể, Trường Chinh vội cho đưa anh chàng phó tổng biên tập bị bệnh to gan đó về Hà-nội, nằm ở phố Lý Thường Kiệt, giữ cái ghế vụ phó vụ xuất bản kiêm phó giám đốc nhà xuất bản Phổ thông (nghĩa là lên chức). Tất nhiên Lê Duẩn phải tức giận, nhưng “nghĩ đến đại sự” nên lờ đi, chỉ lệnh đưa bà vợ già đó qua Bắc-kinh lạnh lẽo như lãnh cung, công tác ở sứ quán đến chết!

Chính cái thực tế của hai nhóm kình chống nhau trong nội bộ tập đoàn đầu lãnh mafia đỏ là nhóm Lê Duẩn và nhóm Trường Chinh càng chứng minh việc “Hồ bị ra rìa”, Lê Duẩn làm sai di chúc của Hồ, đổi ngày Hồ chết, hoàn toàn là âm mưu của mafia đỏ chạy tội cho Hồ, biến Hồ thành thần tượng “vĩnh cửu” phục vụ cho quyền lợi vị kỷ của một thiểu số đầu lãnh mafia đỏ cầm quyền.

Nếu chỉ để cho bọn gia nô cung đình làm việc “phục chế” lại bộ mặt Việt gian khát máu của Hồ thì hiệu quả tuyên truyền bị hạn chế, vì nhân dân Việt Nam phần lớn đã ngấy dàn kèn đồng bốc thơm của gia nô mafia đỏ, cho nên tập đoàn chóp bu mafia đỏ đã láu cá bằng cách này, cách khác (như việc rò rỉ “tin thâm cung” qua miệng Vũ Kỳ chẳng hạn) khiến cho một số ngòi bút hoặc cơ hội, hoặc “lẩn thẩn” đã vô thức hoặc hữu thức tích cực tham gia viết chạy tội cho Hồ, mà cũng là chạy tội cho tập đoàn Việt gian mafia đỏ.

“Thử hỏi, tại sao nếu Lê Duẩn làm sai thì Trường Chinh phải lợi dụng việc đó mà “đấu” Lê Duẩn chứ. Việc Trường Chinh đồng lõa với Lê Duẩn chỉ có thể giải thích rằng tất cả những điều Lê Duẩn đã làm đều theo đúng ý nguyện của Hồ với bằng chứng vững chắc.

“Thử nghĩ xem, nếu mọi người đều biết Lê Duẩn cho “Hồ ra rìa” từ lâu (1956), thì Lê Duẩn cố tình xây lăng cho Hồ để làm gì? Để đời đời nhớ đến việc cái kẻ nằm trong lăng đã bị Lê Duẩn “cho ra rìa” hay sao? Việc xây lăng cho Hồ chẳng giúp ích gì cho Lê Duẩn, nếu không nói là thêm khó khăn vì lúc đó cuộc chiến xâm lược miền Nam đang ác liệt.

Tiết lộ của Hoàng văn Hoan sau khi trốn sang Trung cộng là bất khả tín. Vì thứ nhất, Hoan là tên Việt gian chính hiệu do Trung cộng nhào nặn, nuôi dưỡng cài vào lòng tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh. Từ khi Hoan còn là ủy viên loại chót bảng của chính trị bộ mafia đỏ kiêm phó chủ tịch quốc hội ngụy quyền Hà-nội sau khi Nguyễn chí Thanh bị Hồ khử, thì rất nhiều người ở miền Bắc biết Hoan chỉ còn chức vụ như làm cảnh, cho “anh hai Trung cộng” khó mở miệng trong kế hoạch đu dây của Hồ. Vì thế Hoan chẳng làm gì ở Việt Nam, phần lớn thời gian là sang Tàu lục địa dưỡng bệnh, có về đến Hà-nội thì lại cả ngày hú hí cô bồ nhí tên là Hoa, ở căn vi-la trên đường Quan-thánh (gần Hồ-tây). Nghĩa là chẳng bao giờ Hoan họp chính trị bộ, vì biết những việc quan trọng hễ có mặt Hoan thì hoãn cách này cách khác cho đến khi Hoan vắng mặt. Đúng như Xuân Thủy đã nói với AFP ngày Hoan bỏ trốn. Hoan chửi Duẩn làm sai đường lối của Hồ, chẳng qua là đi tìm sự ủng hộ trong “cán bộ đảng viên” và trong nhân dân Việt Nam còn u mê chưa nhận rõ bộ mặt Việt gian của Hồ. Có thế thôi.

Còn tiết lộ của Trần Quỳnh và, nhất là Vũ Kỳ, chỉ là âm mưu của tập đoàn đầu lãnh mafia đỏ muốn Hồ là kẻ ăn ốc mà Lê Duẩn (vì đã chết) làm kẻ đổ vỏ. Cũng có thế thôi, vì đó là thời kỳ Trường Chinh quay lại cầm chịch! Nhưng chúng cũng không dám công khai đề cập đến chuyện đó cho đúng tầm quan trọng của nó, mà chỉ là “chuyện hành lang”!!!

(Xin mời đọc tiếp bài 14)

http://sutichconyeurauxanhovietnamhochiminh.blogspot.com/