BĂNG TẦN VIỆT CỘNG ĐÚNG BẦN TĂNG !

BĂNG TẦN VIỆT CỘNG ĐÚNG BẦN TĂNG !.TRƯƠNG MINH HÒA


    Tin tức về vụ bà Tuyết Mai và ông Nguyễn Kim Hùng, đã có tham dự buổi nói chuyện, mà giới tu sĩ” nâng cấp” là THUYẾT PHÁP cho có vẽ là” quan trọng, kính tăng” ở ngôi chùa Hoa Nghiêm, tại Jewisn centre, thủ đô Washington D.C; nhờ sự giúp đỡ” quan hệ hữu cơ” và” động viên, động não, động cơ thúc đẩy” của một đạo hữu, có bằng ĐỐC- TỜ, dù đã bỏ công ăn học đến ĐỜ- TÓC mà vẫn còn mang tâm trạng của Tam Tạng gặp sư như là Phật, đó là bác sĩ Trần Đoàn, tức là đạo hữu Nguyên Tu; qua cuộc phỏng vấn với một tay tu sĩ Phật Giáo vô danh tiểu tốt, chỉ có” quân hàm đại đức”, nổi tiếng như cồn sau vụ tổ chức lễ Phật Đản nâng cấp” quốc tế” tại Thái Lan; sau nầy mới biết đó là” thứ thiệt” nằm trong Phật Giáo quốc doanh, dù là nhỏ nhưng là lớn, như hệ thống đảng, nhà nước” thư ký lớn hơn chủ”. Là tu sĩ Phật Giáo, có người còn nể trọng là” trí thức Phật Giáo”, nghe đâu tốt nghiệp bằng tiến sĩ Phật Giáo ở tận bên xứ Ấn Độ ( chứ hổng phải là Harvard, Cambrigde..) từ Việt Nam xuất ngoại” thải mái” qua Mỹ, lợi dụng lễ Vu Lan 2008.

Cuộc thuyết pháp hoằng hóa đạo pháp” hổng cần thiết” và” giựt con mắt” nầy giữa lúc giáo hội Phật Giáo do huề thượng Huyền Quang ( vừa viên tịch), huề thượng Quảng Độ đang bị quỷ đỏ vây bủa trong” đại pháp nạn” triền miên, một điều lạ lùng và buồn cười là: chẳng lẽ ở hải ngoại hổng có đủ kinh sách” chất lượng” và các tăng sĩ  có” nhiều hạ lạp” với đủ các chức sắc: đại đức, thượng tọa, huề thượng….lại hổng có đủ” trình độ” Phật pháp cao để” hoằng hóa” chúng sanh hải ngoại, được coi là” thế giới Tây Phương Cực Lạc”?

Do đó, tên Thích Nhật Từ, mặc ác cà sa đi hoằng Pháp” lộn địa chỉ” nhưng đi trúng chùa” cơ sở” thì phải bị Phật tử, các hội đoàn, người Việt tỵ nạn, là nạn nhân Cộng Sản biểu tình là cũng là” luật nhân quả nhản tiền” thôi. Cái nhân xuất ngoại, thuyết pháp tại một nơi có nhiều cao tăng, đáng bậc thầy của người thuyết pháp và thay vì là người tu đàng hoàng, nên ở Việt Nam cứu giúp Phật tử, giáo hội Phật Giáo đang oằn hoại dưới nanh vuốt quỷ đỏ; thì Thích Nhật Từ xuất ngoại thuyết giảng làm chi? Đúng là” mang củi về rừng, đem tiền cứu tế triệu phú”. Cuộc thuyết pháp nầy cũng là” lô gích” theo đúng tư tưởng” dĩ đại” Hồ Chí Minh, tức là:” thằng khôn đi học, thằng ngu dạy đời”, như vậy thì những cao tăng ở hại ngoại có thấy nhu cầu” cực kỳ khẩn trương thời thượng” để cho một tên mới tu, với chức sắc đại đức qua thuyết pháp để Phật tử giác ngộ, động não trong tinh thần” tu học, tu mau kẽo trễ”, mà hổng thấy chướng tai gai mắt cái” lối thầy đời ngang hông” nầy; nhất là sư, tăng ở cái chùa Hoa Nghiêm, có thấy ngượng không?.

 Hổng lẽ toàn thể sư, sải, trụ trì cái chùa Hoa Nghiêm đều là” tu sĩ dốt Phật Pháp, thiếu trình độ”, nên mới mời một tu sĩ qua thuyết pháp, giảng dạy cho các Phật tử của mình?. Như vậy thì trụ trì chùa Hoa Nghiêm nên đi tìm một” real Estate agent” để nhờ khảo giá, bán chùa, ôm tiền và trở thành” tư bản Phật Giáo” như huề thượng THÍCH GIÁC NHÔM, tức là ÚT CÁI VỒN là đạt tới” trình độ cao cấp trong nghề” tu lường”… Nếu như tay bác sĩ Trần Đoàn chịu ngồi để học hỏi một” y tá” giảng dạy về bịnh lý, thì nên đễ cho Thích Nhật Từ cả gan dám” múa quyền qua mắt võ sư” hay lên lớp thuyết pháp tại nơi có nhiều cao tăng…..chẳng lẽ ngày nay tại hải ngoại còn có cái” chế độ” quản giáo tôn giáo nữa?. Do cái nghịch lý, đi ngược lại cả đạo lý” trò đi dạy thầy” nên lòi ra là tên” mặc áo cà sa, thờ ma Cộng Sản”, nên nhiều người đặt câu hỏi:” Thích Nhật Từ, có phải là sư quốc doanh không?”.

    Qua bài phỏng vấn, được biết là tên Thích Nhật Từ, là tổng thơ ký của Ủy Ban Tổ Chức đại lễ Phật Đản thế giới tai Bankok, Thái Lan 2007, rồi 2008 lại là Tỗng Thư Ký Vesak năm 2008, cũng là chức do bầu bán chứ hổng phải” không người lái” nhé; nhưng ai cũng biết là tên nầy tu hành” lấy Phật Pháp theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, nên mới thăng” tăng, tiến ngạch giáo phẩm”, tiến  nhanh, tiến mạnh và  tiến vững chắc như thế. Được biết tên Thích Nhật Từ có” nghiệp chuyên” là giảng dạy Viện ĐẠI HỌC Phật Giáo Việt Nam tại thành phố” Hồ Chí Minh”, là môn dạy về” triết học” Phật Giáo ( Phật tử ít học miền Nam gọi là CHIẾT- HỌC), nên công cuộc đào tại tu sĩ của Thích Nhật Từ cũng rất là ĐỘC HẠI, có khả năng đào tạo thế hệ tăng sĩ lấy chủ thuyết Marx Lenin làm nền tảng tu học và tư tưởng Hồ Chí Minh làm” lý luận cơ bản” để đưa đến” bến giác”, như thế thì cái viện đại học nầy nên mời Dũng Lò Vôi làm giảng viên mới phải, vì hắn cũng là người đóng góp nhiều” công đức” xây dựng một ngôi tự viện” hoành tráng” thuộc hàng vĩ đại nhất trong nước, là người có sáng tạo nâng cấp” chủ tịch Hồ Chí Minh thành Phật, là triết lý” thời thượng mới” nhằm” đưa ma quái, Phật, Trời, Chúa” cùng nhau” hòa hợp hòa giải” với nhau, cùng nhau trong tinh thần” lao tư lưỡng lợi”;  Dũng Lò Vôi có thể được đảng nâng cấp thành” triết gia hiện đại” có công mở ra” con đường xưa em đi” để lối liền giữa hai cõi giới” thiên đàng và địa ngục” như xa lộ” không đèn”, ai cũng có thể đi lại từ thiên đàng, địa ngục mà không cần” hộ chiếu”, nếu cần thì cũng miễn hộ chiếu, như cửa khẩu biên giới Việt-Trung liền nhau như một nước Trung Hoa, hai bên tự nhiên ra vào.

Theo lời huênh hoang ( dân chúng gọi là khoát lát, nói phét) thì cái” CÔNG ĐỨC” nhưng nói lái là” CỨT ĐONG” của gã Thích Nhật Từ, y chang như” tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển” hay” báo cáo khí tượng thủy văn” thì:” trong vòng 5 năm qua, chúng tôi đã sản xuất được bộ Đại Tạng Kinh Việt Nam dưới dạng MP3, trên 30 album về nhạc Phật Giáo, 1o album về cải lương Phật Giáo, 65 album về tiếng thơ Phật Giáo và tủ sách Phật Giáo với 75 quyển..”, như vậy thì Thích Nhật Từ là nhà” Kách mệnh Phật Giáo theo huynh hướng HIỆN ĐẠI” cả việc” sản xuất kinh Đại Tạng”, đem cải lương Hồ Quảng, thơ, nhạc….nhưng không nghe” kịch nói Phật Giáo” và chưa nghe nói” đem bia, rượu thịt, gái…” để tu mau kẻo trễ; nếu có những thứ nầy mà sư chưa” thành thật khai báo” thì coi như” chưa giác ngộ”. Như vậy Thích Nhật Từ nên theo gương Thích Bảo Nghiêm, vừa” thuyết pháp vừa liếc mắt đưa tình, đá lông nheo, giựt lông mày, động lông Dái… với các tín nữ thơm như muối mít” và trong cái” tịnh thất” của Ngài tu sĩ thời thượng nầy, thì có treo hình” play boy” thay hình Phật để động viên, cho thanh tâm trường” nắng cực”.

    Qua cuộc phòng vấn, Thích Nhật Từ khẳng định:”không tham gia các cuộc đấu tranh, đối với các tu sĩ Phật Giáo, đi đúng với tinh thần Phật dạy trong kinh điển”. Lời phát biểu nầy, chứng tỏ là tên lưu manh mặc áo cà sa, chức sắc đại đức nầy chưa hiểu Phật Pháp, cái mà hắn chưa hiểu mà đi dạy người khác, thì đưa Phật Giáo tiến nhanh, tiến mạnh và tiến dài dài đến MẠT PHÁP cũng là qui luật” thời suy quỷ lộng”. Tư tưởng Đức Phật cao siêu, chớ hổng phải” giản đơn” nhưng chuyện” tự nhiên” hay sợ đi lính, hoặc nhiều nguyên do thầm kín khác, thấy” cõi đời là cõi tạm” cạo đầu, qui y và trở thành” thầy” ngay. Thông thường là Phật tử gặp bất cứ ai mặc” Buddha uniform”, dù tu lâu hay mới vô cũng kêu là” thầy” mà hổng sợ trật; chỉ trừ mấy THẰNG TÂY có mode cạo đầu nhẵn bóng, thoa dầu, mặc quấn áo bình thường, thì hổng phải là THẦY TĂNG. Tu là cội phước, tình là dây oan, đi tu cũng có nhiều nguyên do: trốn lính, tu thiệt, Việt Cộng cài vô chùa, tu giả, tu dỏm…ngay cả thất tình như ” ni cô” trong chuyện tình Lan và Điệp cũng không ai” thét méc”, cửa chùa luôn rộng mở, nên chữa chùa được gắng liền với: cơm chùa, của chùa, tiền chùa, chơi chùa, rượu chùa, thịt chùa…..sau 1975 thì:” Nón tai bèo ai đội nấy mua, không phải của CHÙA, đội hoài không trả…” ( một đoạn trong bài ca vọng cổ tựa là: chiếc nón tai bèo):

” THÍ PHÁT qui y THÁC PHÍ đời.
TRÔI MAU kỷ niệm lúc TRAO MÔI.
CẠO ĐẦU nào phải đi CẦU ĐẠO?
BẮT SỐNG chia phôi, BÓNG SẮC rời.
ĐANG LỜI sám hối ĐỜI LAN khổ.
ĐIỆP CÓ hồi tâm ĐÓ KỊP thời.
LÀM GIAM cửa Phật LAM GIÀ kiếp.
CHỨA CHAN tình lỡ CHÁN CHƯA vơi”.


     Thời Đức Phật Thích Ca, thì vấn đề giặc giả, nhất là quỷ đỏ chưa” sanh ra”, nên hoàn cảnh xã hội là nhằm xóa bỏ quá nhiều giai cấp, tạo bình đẳng giữa các” chúng sanh” dù xuất phát từ nhiều nguồn sắc tộc khác nhau, lời dạy của Phật đâu có nói là” không chống Cộng” bao giờ. Thích Nhật Từ giải thích kinh Phật theo” định hướng xã hội chủ nghĩa” và cũng theo” chính sách tôn giáo vận” của đảng vô thần. Tinh thần bất bạo động của Đức Phật không phải:” nhẩn hoài” mà hổng có thái độ, đó là tinh thần” đại hùng-đại lực-đại từ bi” luôn đi chung với nhau, như bó đũa, lấy từng cái ra áp dụng là” sai con đường của Phật dạy”. Theo kinh Lativistara, thì lúc Thích Ca Mâu Ni giác ngộ, tìm ra chân lý, đêm trước khi Ngài thành Phật, bọn ma quái đưa ma nữ đến quyến rũ nhưng không làm ngài nao núng, đoạn đưa cả đạo quân ma quỷ tới bao vây, ném đá ào ào nhằ khủng bố ( như Việt Cộng pháo kích vậy); nhưng Đức Phật chẳng sợ, ngài không thể” nhẩn” trước bọn ma quái lộng hành, tấn công, bèn dùng ngón tay chạm xuống mặt đất, khiến đất chuyển động rầm rầm, đánh đuổi ma quái chạy dài.

    Thích Nhật Từ đã và đang ru ngủ trong cái điều thuyết pháp, giảng kinh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, làm sai lạc cả ý nghĩa kinh, tư tưởng Phật. Bọn Cộng Sản vô thần thù ghét tôn giáo, như cái định nghĩa” cơ bản” của quỷ kinh Karl Marx:” tôn giáo là thuốc phiện”; dù thù ghét nhưng Cộng Sản là thứ quỷ vương vô cùng quỷ quái, lợi dụng tôn giáo để diệt tôn giáo” gậy ông đập lưng ông”, mà Phật Giáo với” từ bi vô lượng” thu nhận người” truyền giảng tư tưởng, triết học Phật Giáo” không dựa vào tiêu chuẩn” trình độ” nên mới có câu:” sống lâu lên lão làng, tu lâu lên huề thượng, đi lính lâu lên thượng sĩ già”.

  • Tại việt Nam, Việt Cộng diệt và tấn kích Phật Giáo bằng hai mặt trận:

Hình thức: lập ra giáo hội quốc doanh, thu nhận, chiêu dụ một số tu sĩ thiếu đạo hạnh” mượn đạo tạo đời” vì việc tù hành, làm chức sắc không đòi hỏi nhiều, mà cái tâm giác ngộ có vẻ mơ hồ, nguy hiểm quá:” có ái lấy thướt mà đo lòng người”. Cài công an và giả dạng tu sĩ, cũng làu kinh, tụng niệm như sư thiệt, vừa kiểm soát tôn giáo, Phật Tử đến chùa và vừa khiến cho Phật Tử chán ngán khi thấy sư uống rượu, ăn thịt, có vợ con công khai, xuất ngoại thoải mái.

-Triết lý: dựa vào thuyết” LUÂN HỒI” mà giải thích theo quyền lợi đảng, với lý luận” nhẩn nhục” như Thích Nhật Từ, tức là kiếp trước mình làm điều ác, nên kiếp nầy mang nghiệp báo…cứ chấp nhận thực tế để” trả quả”, tức là giới tu sĩ quốc doanh cho Phật Tử có tập quán” trọng Phật kính tăng” uống liều thuốc an thần, nên họ coi chuyện chế độ tàn ác Cộng Sản đè đầu cỡi cổ, giết hại, tịch thu tài sản là” trả quả” để kiếp sau được sung sướng, chớ hổng phải:

Kiếp sau xin chớ làm người.
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

     Những người tin tưởng” trả quả” một cách mù quáng, máy móc theo thuyết luân hồi, luật nhân quả của đức Phật, lại bị giảng dạy sai lạc, được coi là” thứ Bát Nhả Tâm Kinh giảng BẬY” của các tu sĩ quốc doanh, công an ( dùng triết học Marx Lenin để hướng dẫn kinh Phật” đưa đến tình trạng:” dắt tay Phật Tử đi theo tấm bản chỉ đường của quỷ đỏ”, nên họ cứ chấp nhận đàn áp của chế độ Cộng Sản để trả quả cho kiếp trước; cứ thế mà tin tưởng mãi, bị bọn ma quái mặc áo cà sa nhồi sọ từ các Tự Viện, trường đại học Phật Giáo, đào tạo ra lớp TĂNG CHÚNG đi” chệch hướng Phật dạy” trở thành những kẻ TÚNG CHĂNG, vì muốn cơm áo, quyền lợi mà theo quỷ, nhưng lại mặc áo tăng, tức là quỷ đỏ ngày nay rất” hiện đại” chúng:” đi với Phật mà mặc áo giấy có màu vàng” mà nhiều người lầm là” áo cà sa”, nên cứ thế mà đạo pháp bị sa lầy vào cõi vô minh, trong vòng tay quỷ đỏ, nhưng giới Phật Tử” kính tăng máy móc” trở thành” tập thể Tang Tạm thời đại” đóng góp bàn tay, cúng dường, công quả để nuôi dưỡng đạo quân ma quái” trong lớp áo cà sa” thì bao giờ pháp nạn mới giải tỏa?

 Khi mà tuyệt đại đa số Phật Tử trong nước đều” thấm nhuần” thuyết luân hồi, hiểu luật nhân quả” chệch hướng” theo như lời thuyết giảng sai lạc của các tu sĩ quốc doanh, chấp nhận” nhẩn nhục” để trả quả, vung bồi công đức cho kiếp sau; nếu có thù Việt Cộng thì cũng phải” nhẩn nhục”, và có thái độ tích cực hơn là” cầu nguyện, nhờ ông Phật ra tay trừng trị bọn quỷ vương” để cứu độ chúng sanh, giải trừ pháp nạn…thì còn lâu mới hết pháp nạn, trái lại đảng và nhà nước còn” hồ hởi phấn khởi”, dám xuất tiền cho các chùa quốc doanh in thêm kinh sách để cầu nguyện cho” hòa bình, quốc thái dân an..”.

Hình như tại các nước có Phật Giáo chiếm đa số, Phật Tử đã đi lệch hướng, triết lý và tinh thần của Đức Phật, khi áp dụng luật nhân quả, luân hồi, đành chấp nhận” trả quả” nên không quật khởi theo như tinh thần đấu tranh:” đại hùng-đại lực-đại từ bi”, nên các chế độ Cộng Sản ở Trung Hoa, Việt Nam, Lào, Miên, ngay cả quân phiệt Miến Điện…vẫn” thanh tâm trường thống trị”; đó có thể cũng là một trong những lý do mà: Việt Nam. (*)Trung Cộng…không sụp đổ mặc dù chủ thuyết Cộng Sản tàn lụi, lổi thời..nên các quốc gia Tây Phương, nhất là Hoa Kỳ, có thể đã sai lầm chiến lược” dùng kinh tế để biến các chế độ Cộng Sản thành dân chủ”; nhưng các nước Á Châu thì áp dụng sai lạc triết lý đức Phật mà hổng muốn” đấu tranh” chấp nhận hiện tại, áp bức để trả quả, để kiếp sau sung sướng…chẳng những không thành công dân chủ hóa, trái lại còn giúp cho các chế độ Cộng Sản thêm sức mạnh, đang có chiều hướng đứng dậy, tiếp tục cuộc chiến tranh lạnh vừa mới tàn lụi.

       Đạo Pháp, triết lý đức Phật cao siêu chớ hổng phải tầm thường như chuyện” xuất ngoại bằng tiền nhân dân, Phật tử” đi thuyết pháp của các tu sĩ quốc doanh. Tư tưởng Đức Phật được áp dụng uyển chuyển từng thời đại, chớ không phải lúc nào cũng” từ bi, nhẩn nhục, chịu đựng, trả quả”. Đức Phật từ bỏ cung son điện ngọc, vợ đẹp, con ngoan để tìm đường giải thoát; trong khi đó ngày nay, hầu hết các” tăng chúng” tự xưng con Phật, lấy học THÍCH, nhưng lại” HỔNG THÍCH GIẢI THOÁT” cứ THÍCH ĐỦ THỨ nên sư nào cũng muốn có” chùa lớn, hoành tráng” như câu tục ngữ của người đời, nhằm nói đến giới sư ham chùa lớn, không theo gương đức Phật, coi cõi đời là cõi tạm:” tu mà lựa ngôi chùa lớn thì đỡ tấm thân”. Hình như cái” luật nhân quả” cũng trở thành” công cụ” để các gian sư” mượn đạo tạo đời” dùng để HÙ các Phật tử rằng:” kiếp nầy mau đóng góp công quả, làm phước, cúng dường…thì kiếp sau sẽ sung sướng, có khi giàu sau, làm quan, vua..” và hù là:” hổng làm phước, lo vun bồi công đức, kiếp sau đầu thai làm thú vật, sâu bọ..”

Nghe nói ai mà” HỒNG RÉT”, thế là Phật tử mang tiền đến cùng dường, vun bồi nơi thờ Phật là chùa, họ hiểu lầm là” lo cho Phật” là thế nào ông Phật cũng” ngó lại”; tạo thành giới Phật Tử” NỊNH PHẬT”, chứ đức Phật đâu có bảo chúng sanh nịnh Phật bằng” đúc tượng lớn, vàng” mà thành Phật bao giờ? Tuy nhiên, chính cái sự tin tưởng lệch hướng nầy các chùa càng ngày càng” hoành tráng” và túi tiền Phật Tử thì cạn dần, cho nên người ta hổng ngạc nhiên khi thấy giới tăng sĩ ngày nay trở thành” tư bản đầu trọc”, không làm gì cực khổ, chỉ ngồi tụng kinh, gõ mõ, đặt thùng” Phước Sương” là vinh quang, nên có nhiều vị sau thời gian tu hành ở hải ngoại, trở thành chủ kiêm quản lý nhiều ngôi chùa ở những nơi có giá trị địa ốc cao ở các nước Tây Phương cực lạc, các vị nầy đi nhiều nước hàng năm mà tiền” chùa” thì hổng bao giờ hết; mỗi khi có thiên tai, vung bồi công đức, thầy đứng ra kêu gọi, là cũng tu cao đấy thôi! Tiền cúng dường, đóng góp công quả do Phật tử, sư quản lý và sau nầy, kiếp sau là Phật trả, như vậy đâu có công bằng; cho nên trong giới Phật Tử không hiếm người đi chùa, cúng dường, xây tượng Phật cao, lớn… để mong kiếp sau sung sướng, và nhất là cầu cho ông Phật ban cho 6 con số Lotto là” tu nhất kiếp ngộ nhất thời”. Trước đây, tờ Adelaide Tuần Báo ở Úc Châu ( Nam Úc), hổng biết sưu tập ở đâu mà đăng nửa trang về một cuốn kinh, đọc xong, Phật tử tá hỏa, vì đây toàn là những luật hù dọa, luận hồi, đại khái là: ai dám nói xấu, phỉ báng, không tôn kính sư…là chết xuống âm phủ bị cắt lưỡi, phanh thây, nghèo mạt rệp kiếp sau….nên sư là giai cấp” đỉnh cao trí tuệ Phật Giáo”.

     Triết lý đức Phật cao siêu chớ hổng phải tầm thường, nên những kẻ lợi dụng, làm sai lạc thì phải bị vạch mặt, như tên Thích Thanh Từ, Thích Thanh Tứ, Thích Trí Quang, Thích Nhật Từ và nhiều gã tự nhận họ Thích khác, nhưng hổng thích Phật, mà Thích đủ thứ, Thích Giàu Sang, kể cả tu sĩ quốc doanh THÍCH VIỆT CỘNG nữa. Ngành đạo Phật Giáo Hòa Hảo do đức Thầy Huỳnh Phú Sổ khai sáng vào tháng 5 năm Kỷ Mão ( 1939) là thể hiện đúng như triết lý của đức Phật:” đại hùng, đại lực, đại từ bi” với tứ ân:

” Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa.
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.
Đền xong nợ nước, thù nhà.
Thiền môn trở gót, Phật Đà Nam Mô”

Hay là:

Tu đền nợ nước cho rồi.
Ngày sau mới được đứng ngồi tòa sen”
Ngài dạy rằng:” nước thái bình thân ta mới yên, bờ cõi lặng thân ta mới ấm”.

     Sau cuộc phỏng vấn tên” mặc áo cà sa, thờ ma Cộng Sản” Thích Nhật Từ, ngày hôm sau, hắn gởi một email rằng:” Tối hôm qua, sau khi tôi giảng xong, đã có hai người chất vấn và thể hiện rõ ác ý xuyên tạc và thiếu nghiêm túc của một người có lương tri. Chẳng lẽ đó là văn hóa của người sống trong thế giới tự do và tiến bộ? Những ai có tinh thần như thế, đừng nên làm cho nền văn hóa phương Tây bị ô uế bởi hành động thiếu văn hóa Việt Nam của mình. Kính chúc văn hóa và đạo đức có mặt với những người đã đánh mất lương tri của sự chân chính”.

    Những lời lẽ của tên quỷ đỏ mặc áo cà sa chẳng khác nào lời của cán ngố trong bộ chính trị, cán ngáo địa phương, ban thông tin văn hóa, những bài tham luận, chánh án tòa án nhân dân; chớ trong kinh Phật, phật ngôn, phật từ, hổng có lối hành văn theo” duy vật biện chứng” đó. Được biết, Thích Nhật Từ đước cho là tiến sĩ, là ” trí thức Phật Giáo” như TRÍ XIU, TÊ SĨ….trong Phật Giáo, người đi tu là xem cõi đời là cõi tạm, nhà cửa, sụ nghiệp đền đài, chức tước…. đều là vô thường, nhưng một số tu sĩ nầy lại thích phô trương cái danh” TIẾN SĨ” để lầy làm” sơ sở” thuyết pháp, nếu là” người phàm” hổng phải là tiến sĩ như huề thượng Huyền Quang, Quảng Độ…là thuyết pháp hổng có ai nghe phải không?.

Tuy nhiên bên Công Giáo, tất cả các tu sĩ từ linh mục trở lên đều là” tiến sĩ thần học” đàng hoàng, có vị còn đậy nhiều bằng tiến sĩ của các đại học danh tiếng Âu, Mỹ, vậy mà khi xưng danh, họ chỉ đề” tên thánh” với tên mình. Đúng là” xấu hay làm dáng, dốt hay dắt viết đầy cả quần áo”. Riêng tên Thích Nhật Từ, thời gian qua, cũng có vài nơi” ÁI MỘ” như ở Úc châu, trước đây đài phát thanh SBS ở Sydeny, phát thanh viên Vũ Nhuận có mục” tiếng hát Úc Châu” ( bây giờ ngưng vì đài thu hẹp thành một).  Vũ Nhuận đã hai lần giới thiệu một” nhạc sĩ” rất là tâm đắc, ca tụng Thích Nhật Từ như là bậc” triết gia thời đại, vĩ đại” đấy, nhạc sĩ nầy cho biết là đã từng về Việt Nam và” giác ngộ” với thầy Thích Nhật Từ, viết nhạc theo tư tưởng Thích Nhật Từ. Tuy nhiên, đối với các Phật tử chân chính và tỉnh thức, thì Thích Nhật Từ nầy có phải là sư quốc doanh hay không? khỏi nói nhiều là sư nào nằm trong giáo hội do nhà nước Việt Cộng lập ra đều là ” mặc áo cà sa, thờ ma Cộng Sản”. Nếu Thích Nhật Từ nầy sống dưới thời Lê Long Đỉnh, khi nhà vua nổi hứng, bỗng thèm ăn XÍU MẠI của người Tàu mang qua sau thời gian cai trị, thì cũng giải giao qua cho nhà bếp của vua làm việc./.

( Người viết bài nầy không bao giờ có ý đả phá bất cứ tôn giáo nào, nếu có những điều sai lạc, xin thành thật xin lổi cái vị cao minh)
 

– Trương Minh Hòa   –

(*). TinParis Ghi chú . Chúng ta  cũng nên dè dặt  không nên ” cho rằng  vì thấm nhuần ” luật luân hồi – nhân quả ” mà Phật Giáo các nước  như Miên , Lào, Miến Điện, Việt Nam, Trung Cộng  không đứng lên chống lại các chế độ cầm quyền. Có nhiều nguyên do :

1- Về Giáo lý . Phật Giáo Tiểu Thừa  chủ trương ” xuất thế ” hơn là “nhập thế “.  Đó là Phật Giáo ở các nước như Miên, Lào, Miến Điện,  Thái Lan, Tích Lan.. Phật Giáo Đại Thừa  chủ trương ” nhập thế  ” dấn thân  , nhưng cũng  có phần  ” xuất thế ”   như tại các nước Việt Nam, Đại Hàn, Nhật , Trung Cộng , Đài Loan,  Mông Cổ ( cũng có ảnh hưởng Mật Tông).  Phật Giáo  Tây Tạng  thường gọi là ” mật tông ”  thì đặc biệt  vì  dẫn đến  một chế độ ” giáo quyền “.

2- Tuy nhiên, chúng ta đừng quên những cuộc biểu tình đẩm máu của các tăng lữ Miến Điện trong vòng 5 năm trở lại đây, và của các tăng lữ Tây Tạng  từ ngày bị Trung Cộng đô hộ trong đầu thập niên 50  đến nay.

3- Dưới các chế độ độc tài toàn trị như Cộng Sản, Phát Xít, hệ thống công an dày dặt như ” mắt khóm “,  mọi cuộc nổi dậy đều bị đàn áp trong biển máu, không riêng gì cho Giáo Hội Phật Giáo, mà còn cho cả Giáo Hội Thiên Chúa nửa . Chỉ có Giáo Hội Thiên Chúa Ba Lan nhờ  Giáo Hoàng Jean Paul 2 ,  một người xuất chúng ,  với  sự yểm trợ của Mỹ, và đúng thời cơ khi Liên  Xô bắt đầu kiệt  quệ về kinh tế, nên Giáo Hội Ba Lan qua các con chiên như Lech Walesa mới nổi dậy làm sụp đổ chế độ Cộng Sản Ba Lan.

4- Chúng ta đừng quên là các Giáo Hội quan niệm là Giáo Hội  đứng trên  các chính quyền. Các chính quyền sẽ qua đi và Giáo Hội sẽ trường tồn với Đất Nước và Dân Tộc. Cho nên, phần đông các Giáo Hội đều  ” mặc cả để làm ăn ” với các nhà ” cầm quyền tại chức ” trừ phi họ bách hại  ” quá mức” không còn thương thảo được. Các Giáo Hội cũng như các Chánh quyền Tây Phương cũng ” mặc cả quyền lợi ” với nhau trong tinh thần ” dân chủ ” và vì quyền lợi của Đất  Nước và Dân Tộc nên các cuộc tranh đấu không dẫn đến các cuộc đàn áp đổ máu.

Riêng tại các nước Cộng Sản, và đặc biệt là  Cộng sản Việt Nam, họ  cho thành lập  các Giáo Hội Quốc Doanh dưới quyền  của Đảng để triệt tiêu các Giáo Hội Chính Thống , và các Giáo Hội Quốc Doanh u mê  đang chết dần như  hình ảnh của ” con ếch ”  trong câu chuyện  dưới đây.

”  Một con ếch bị  bỏ trong một  thùng nước  rất lớn đang được đun sôi,  nhưng  thùng rất sâu, chú ếch không thể nào nhảy  lên  bờ  miệng thùng được. Chú nhìn lên bầu trời xanh , và  chỉ thấy nhiệt độ nước lúc đầu  bằng nước ao hồ. Chú rất sảng khoái, chú cứ bơi mải, cho là mình có thể trường tồn như trước.  Nhưng nước nóng dần, chú bắt đầu thấm mệt, và kiệt sức để cuối cùng “chết  luộc ”   trong thùng nước sôi”…..

http://tinparis.net/vn_index.html

Danh sách trên 300 cán bộ Cộng Sãn có tài sãn vài trăm triệu Mỹ kim

Danh sách trên 300 cán bộ Cộng Sãn có tài sãn vài trăm triệu Mỹ kim

02.12.2005

CongSanThamNhung
USA

CSVN tham nhũng kinh khũng như vầy mà quý vị còn nói chuyện chống tham nhũng. Hãy xem lại những số tiền khổng lố của những tên quan chức CSVN. Làm sao chống tham nhũng khi CSVN là những tên tham nhũng chưa từng thấy trong lịch sữ.

Phan Văn Khải và con trai trên 2 tỷ USD
Nguyễn Thị Xuân Mỹ : Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Kiểm Soát 417 triệu USD
Thích Trí Tịnh : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, TW GHP 250 triệu USD
Lê Đức Anh : Cựu Chủ tịch nhà nước CSVN 2 tỷ 215 triệu USD
Trần Đức Lương : Chủ tịch nhà nước 2 tỷ 100 triệu USD
Đỗ Mười : Cựu Tổng Bí Thư CSVN 1 tỷ 90 triệu USD
Nguyễn Tiến Dũng : Đệ nhát Phó Thủ Tướng 1 tỷ 780 triệu USD
Nguyễn Văn An : Chủ tịch Ban Chấp Hành Trương Đảng CSVN 1 tỷ 70 triệu USD
Lê Khả Phiêu: Cựu Tổng Bí Thư Đảng 1 tỷ 430 triệu USD
Nguyễn Mạnh Cầm : Phó Thủ Tướng 1 tỷ 350 triệu USD
Võ Văn Kiệt : Cựu Tổng Bí Thư Đảng 1 tỷ 15 triệu USD
Nông Đức Mạnh : Chủ Tịch Quốc Hội 1 tỷ 143 triệu USD
Phạm Thế Duyệt : Uỷ viên Thường vụ Thường trực TW Đảng 1 tỷ 773 triệu USD

Trần Ngọc Liễng : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 900 triệu USD
Hoàng Xuân Sính : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 784 triệu USD
Lý Ngọc Minh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 750 triệu USD
Nguyễn Đình Ngộ : Chủ tịch UBMTTQ 656 triệu USD
Võ Thị Thắng : Phó Chủ tịch Trung ương HLHPN 654 triệu USD
Ma Ha Thông : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 590 triệu USD
Nguyễn Đức Triều : Chủ tịch TW Hội Nông dân VN 590 triệu USD
Trần Văn Quang : Chủ tịch Hội Cựu chiến binh VN 587 triệu USD
Nguyễn Đức Bình : Giám Đốc Viện Quốc Gia TPHCM 540 triệu USD
Vương Đình Ái : Phó Chủ tịch Uỷ ban ĐKCĐVN 512 triệu USD
Hoàng Thái : Thường trực Đoàn Chủ tịch 500 triệu USD
Nguyễn Thị Nữ : Chủ tịch UBTW MTTQVN 500 triệu USD
Nguyễn Tiến Võ : Uỷ viên UBTW MTTQVN 469 triệu USD
Nguyễn Văn Huyền : Nhân sĩ thành phố HCM 469 triệu USD
Nguyễn Xuân Oánh : Kinh tế Thành phố HCM 469 triệu USD
Phạm Thị Trân Châu : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 469 triệu USD
Thích Thiện Duyên : Giáo hội Phật giáo QN ĐN 469 triệu USD
YA Đúc : uỷ viên UBTW MTTQVN 469 triệu USD
Hà Học Trạc : Chủ tịch UBTW MTTQVN 400 triệu USD
Hoàng Quang Đạo : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh 390 triệu USD
Lê Hai : Tổng cục chính trị QĐNDVN 390 triệu USD
Lê Truyền : Uỷ viên Ban Thường trực 390 triệu USD
Lý Quý Dương : Dân Tộc Dao tỉnh Hà Giang 390 triệu USD
Phạm văn Kiết : Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc 390 triệu USD
Vương Đình Bích : Uỷ viên UBTW MTTQVN 390 triệu USD
Trần Đông Phong : Thường trực UBTƯMTTQVN 387 triệu USD
Trần Văn Đăng : Uỷ viên TƯ Đảng,Tổng Thư ký 364 triệu USD
Hoàng Đình Cầu : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Lý Chánh Trung : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Ngô Bá Thành : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Trương Thị Mai : Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam 300 triệu USD
Hồ Đức Việt : Bí Thư thứ nhất TW Đoàn TNCS 287 triệu USD
Lâm Công Định : Uỷ viên UBTW MTTQVN 287 triệu USD
Ngô Gia Hy : Uỷ viên UBTW MTTQVN 287 triệu USD
Trần Văn Chương : Chủ tịch Hội người Viẹt Nam 287 triệu USD
Trương Văn Thọ : Bác sỹ, dân tộc Chăm 287 triệu USD
Đỗ Duy Thường : Vụ Trưởng vụ Dân chủ pháp luật 280 triệu USD
Đỗ Tấn Sỹ : Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp 280 triệu USD
Lê Văn Triết : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 280 triệu USD
Lương Tấn Thành : Giáo Sư Bệnh viện Bạch Mai 280 triệu USD
Nguyễn Phúc Tuần : Uỷ viên UBTW MTTQVN 280 triệu USD
Phạm Thị Sơn : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 280 triệu USD
Lê Bạch Lan : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 269 triệu USD
Nguyễn Văn Vi : Uỷ viên UBMTTW 269 triệu USD
Trần Thoại Duy Bảo : Uỷ viên UBTW MTTQVN 269 triệu USD
Vũ Oanh Lão : thành cách mạng 269 triệu USD
Nguyễn Thị Nguyệt : Cao đài Ban Chỉnh tỉnh Bến Tre 264 triệ USD
Bùi Thái Kỷ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh 257 triệu USD
Hoàng Hồng : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 257 triệu USD
Lưu Văn Đạt : Tổng Thư ký Hội Luật gia Việt Nam 257 triệu USD
Nguyễn Công Danh : T P. Hồ Chí Minh 257 triệu USD
Nguyễn Túc : Uỷ viên Ban Thường trực 257 triệu USD
Nguyễn Văn Bích : Uỷ Ban Kế hoạch Nhà Nước 257 triệu USD
Hoàng Việt Dũng : Giám đốc Công ty TNHH 256 triệu USD
Phan Quang : Hội nhà báo Việt Nam, Uỷ viên UBMT 256 triệu USD
Vưu Khải Thành : Tổng công ty hữu hạn BITIS 256 triệu USD
Cao Xuân Phổ : Viện Đông Nam á 254 triệu USD
Chu Văn Chuẩn : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 254 triệu USD
Đăng Thị Lợi : Chủ tịch Hội Thân nhân Việt kiều 254 triệu USD
Hoàng Văn Thượng : Đại tá, Anh hùng quân đội 254 triệu USD
Lê Quang Đạo : Trung ương Mặt trận Tổ quốc N 254 triệu USD
Lợi Hồng Sơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 254 triệu USD
Lý Chánh Trung : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 254 triệu USD
Ngô Ngọc Bỉnh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
Nguyễn Kha : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
Nguyễn Văn Hạnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 254 triệu USD
Nguyễn Văn Vĩnh : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
Đinh Thuyên : Chủ tịch hội người mù Việt Nam 250 triệu USD
Đoàn Thị ánh Tuyết : Thượng tá, Anh hùng quân đội 250 triệu USD
Lê Thành : Phó Chủ tịch Thường trực 250 triệu USD
Mùa A Sấu : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 250 triệu USD
Trần Kim Thạch : Uỷ viên UBTW MTTQVN 250 triệu USD
Lê Ngọc Quán : Mặt trận Tổ quốc tỉnh Vĩnh Phú 249 triệu USD
Nguyễn Quang Tạo : Chủ tịch liên hiệp các hội hoà bình 249 triệu USD
Nguyễn Văn Thạnh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 249 triệu USD
Thào A Tráng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 249 triệu USD
Trần Khắc Minh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 229 triệu USD
Lê Minh Hiền : Thường trực UBTƯMTTQVN 215 triệu USD
Hà Thị Liên : Thường trực UBTƯMTTQVN 214 triệu USD
Ama Bhiăng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Âuu Quang Cảnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Bế Viết Đẳng : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Đàm Trung Đồn : Đại học Tổng hợp Hà Nội 200 triệu USD
Đặng Đình Tứ : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Đặng Ngọc Bân : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Đinh Công Đoàn : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Đinh Gia Khánh : Viện Văn học dân gian 200 triệu USD
Hà Phú An : Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Hoàng Đức Hỷ : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Lâm Bá Châu : Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp 200 triệu USD
Lê Văn Tiếu : Việt kiều tại CHLB Đức 200 triệu USD
Lương Văn Hận : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Nguyễn Văn Tư : Chủ tịch Hội Công Thương 200 triệu USD
Phùng Thị Hải : Giám đốc Công ty TNHH Thuỷ Sản 200 triệu USD
Rơ Ô Cheo : Dân tôc Gia Lai tỉnh Gia Lai 200 triệu USD
Sầm Nga Di : Dân tộc Thái, tỉnh Nghệ An 200 triệu USD
Thích Đức Phương : Thừa Thiên Huế 200 triệu USD
Thích nữ Ngoạt Liên : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Trần Hậu : TWMTTQVN Trưởng Ban Nghiên 200 triệu USD
Triệu Thuỷ Tiên : Dân tộc Nùng 200 triệu USD
Trương Nghiệp Vũ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Trương Quốc Mạo : Chủ tịch Hội nông dân 200 triệu USD
Ung Ngọc Ky : Uỷ viên uỷ ban TWMTTQ 200 triệu USD
Vũ Đình Bách : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Mong Văn Nghệ : Dân tộc Khơ mú tỉnh Nghệ An 197 triệu USD
Đinh Xông : Dân tộc Hrê tỉnh Quãng Ngãi 190 triệu USD
Lê Công Tâm : Phó Chủ tịch Thường trực 190 triệu USD
Mấu Thị Bích Phanh : Dân tộc Raklây tỉnh Ninh Thuận 190 triệu USD
Nguyễn Ngọc Minh : Uỷ viên UBMTTQ tỉnh Huế 190 triệu USD
Phan Hữu Phục : Cao đài Tiên thiên 190 triệu USD
Trần Thế Tục : Uỷ viên UBTW MTTQVN 190 triệu USD
Hoàng Mạnh Bảo : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Nguyễn Thị Ngọc Trâm : Uỷ viên UBTW MTTQVN 187 triệu USD
Phạm Hồng Sơn : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Phan Hữu Lập : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Thái Văn Năm : Phật giáo Hoà hảo 187 triệu USD
Trần Văn Tấn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 187 triệu USD
Vi Văn ỏm : Dân tộc Xi mun tỉnh Sơn La, 187 triệu USD
Bùi Thị Lập : Uỷ viên UBTW MTTQVN 184 triệu USD
Kpa Đài : Uỷ viên UBTW MTTQVN 184 triệu USD
Lê Văn Hữu : Mặt trận Tổ quốc tỉnh Phú Yên 184 triệu USD
Nông Quốc Chấn : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 184 triệu USD
Phạm Khiêm Ich : Viên Thông tin KHXH 184 triệu USD
Phạm Thanh Ba : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 184 triệu USD
Từ Tân Vũ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 184 triệu USD
Viễn Phương : Nhà thơ Uỷ viên UBMTTQ 184 triệu USD
Nguyễn Ngọc Thạch : Tổng Biên Tập Báo Đại Đoàn kết 180 triệu USD
Trương Hán Minh : Người Hoa TP. Hồ Chí MInh 180 triệu USD
Bùi Xướng : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 157 triệu USD
Trần Đình Phùng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt 157 triệu USD
Hồ Ngọc Nhuận : Uỷ viên UBTW MTTQVN 156 triệu USD
Phan Huy Lê : Uỷ viên UBTW MTTQVN 156 triệu USD
Nguyễn Thống : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 154 triệu USD
Trần Minh Sơn : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 154 triệu USD
Vũ Duy Thái : Giám đốc xí nghiệp trách nhiệm hữu hạn 154 triệu USD
Chu Phạm Ngọc Sơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Đỗ Hoàng Thiệu : Đà Nẵng Ngân Hàng tỉnh QN ĐN 150 triệu USD
Dương Nhơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Huỳnh Cương : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Mai Thế Nguyên : Kiến trúc sư trưởng tại Na Uy 150 triệu USD
Ngô Minh Thưởng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 150 triệu USD
Nguyễn Ngọc Sương : Đại học Tổng hợp Thành phố 150 triệu USD
Nguyễn Văn Diệu : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 150 triệu USD
Phạm Ngọc Hùng : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Thượng thơ Thanh : HT Cao đài Toà Thánh Tây Ninh 150 triệu USD
Trần Đức Tăng : Phối sư Hội thánh Cđ Minh Chơn đạo 150 triệu USD
Trần Phước Đường : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Lê Đắc Thuận : Giám đốc điều hành Cty VANOCO 107 triệu USD
Nguyễn Đức Thành : Chủ tịch Ban điều hành CLB 107 triệu USD
Trần Mạnh Sang : Uỷ viên UBTW MTTQVN 107 triệu USD
Amí Luộc : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Bùi Thị Lạng : Thành phố Hồ Chí Minh. 100 triệu USD
Danh Nhưỡng Dân tộc Khơ me 100 triệu USD
Đào Văn Tý : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Đồng Văn Chè : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
Hà Den : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Hồ Phi Phục : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Hoàng Kim Phúc : Tổng Hội trưởng Hội Thánh tin lành 100 triệu USD
Kim Cương Tử : UBTW MTTQV 100 triệu USD
Lê Ca Vinh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Lý Lý Phà : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Nguyễn Hữu Hạnh : Nhân sỹ Thành phố 100 triệu USD
Nguyễn Lân : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 100 triệu USD
Nguyễn Lân Dũng : Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 100 triệu USD
Nguyễn Minh Biện : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
Nguyễn Phước Đại : Luật sư TP. Hồ Chí Minh 100 triệu USD
Nguyễn Tấn Đạt : Phật giáo Hoà hảo tỉnh An Giang 100 triệu USD
Nguyễn Thành Vĩnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Nguyễn Thị Liên : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Nguyễn Thiên Tích : Chủ tịch hội y học cổ truyền VN 100 triệu USD
Nông Thái Nghiệp :Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Phùng Thị Nhạn : Nghệ sỹ nhân dân Thành phố HCM 100 triệu USD
Sùng Đại Dùng : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
Trương Quang Đạt : Dân tộc Sán Dìu tỉnh Vĩnh Phú 100 triệu USD
Tương Lai : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Vũ Mạnh Kha : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Hà Nội 100 triệu USD
Hà Thái Bình : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 56 triệu USD
Nguyễn Văn Đệ : Thượng tá, kỹ sư thuộc Bộ Quốc Phòng 56 triệu USD
Trần Bá Hoành : Uỷ viên UBTW MTTQVN 56 triệu USD
Võ Đình Cường : Uỷ viên UBTQ MTTQVN 56 triệu USD
Cù Huy Cận : Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật VN 50 triệu USD
Lê Khắc Bình : Chủ tịch, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 50 triệu USD
Huỳnh Thanh Phương : ủy Quân sự thành phố Cần Thơ 32 triệu USD
Hồ Xuân Long : Dân tộc Vân kiều, Quãng Trị 15 triệu USD

Một tài liệu cũ trong báo Quốc gia, Montreal, Canada từ tháng 2/1996 trích tin Nữu Ước cho biết :

“ Một thành viên cao cấp của Hội đồng mậu dịch Việt – Mỹ tiết lộ đảng CSVN được xem là một tỉ phú hàng đầu của thế giới vào năm 1995 với tài sản ước lượng lên đến 20 tỉ đôla…VN hiện nay có khoảng từ 80 đến 100 người có tài sản trên 300 triệu đô la, tất cả các tỉ phú này đều là cán bộ cao cấp của đảng.

“Ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, phát biểu rằng các ông lớn trong đảng gồm các thành viên bộ chính trị, các bộ trưởng và thứ trưởng, ít nhất mỗi người có vợ hay con làm chủ một công ty. Theo ông J Shapiro, do việc chính phủ cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên đến 500000 đô la, số ngoại tệ trong nước bắt đầu vơi đi.

“Vẫn theo ông Shapiro, có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la. Đây là con số do một nhân vật cao cấp của ngân hàng trung ương cung cấp cho ông. Những đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la khoảng 2000 người…Tất cả những con số về tài sản của đảng CSVN là do những chuyên viên thống kê của cơ quan mậu dịch quốc tế. Số tài sản lớn lao trên do thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ. Ông Shapiro cũng nêu lên nhiều thí dụ điển hình như vợ bé của tổng cục phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc tổng cục kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston. Trong niên khóa 94-95, hàng trăm du học sinh là con cái đảng viên tự túc. Niên khóa 95-96, con số này tăng lên gấp 3…”

Một tài liệu khác trong website mà tôi tạm dịch là mạng điểm ( cf. địa điểm, thời điểm) Hận Nam Quan tháng 5/2002 tựa là “ Giai cấp mới trong các chế độ CS “ cho biết :

“Theo tin của hãng thông tấn Reuter đánh đi từ Hà nội ngày 4 tháng 3 năm 2002 thì ĐCSVN sau khóa họp TƯ Đảng từ 18-2-đến 2-3-2002 đã chính thức ban hành một chính sách mới về kinh tế rất táo bạo: Đảng viên CS được phép làm kinh doanh tư nhân. Phạm Chi Lan, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và kỹ nghệ tuyên bố với phóng viên của hãng thông tấn Reuter rằng:”… Đại hội đã quyết định là các đảng viên đang quản trị các xí nghiệp tư nhân có quyền ở lại trong Đảng”.

“Thật ra thì từ nhiều năm nay, các đảng viên cao cấp tuy không chính thức sở hữu một xí nghiệp tư nào cả nhưng thân nhân bà con của họ đã là chủ nhân của những xí nghiệp tư lớn nhất trong nước.

“Cứ hỏi vợ con các ông Phan văn Khải, Võ văn Kiệt, Đỗ Mười, Phạm Thế Duyệt, Trần Đức Lương, Nguyễn Tấn Dũng…là sẽ biết ai là chủ nhân của các sân golf, các khách sạn hạng sang, hãng xe taxi, hãng hàng không, nhà máy chế biến hải sản, hãng xuất nhập cảng, siêu thị lớn nhất nước.

“Ai mà không thấy sự giàu có hiển nhiên của giới lãnh đạo CS tại VN. Họ xây nhà lầu, xài tiền như nước, xuất ngoại như đi chợ, chi tiêu một lúc hàng bó đô la tiền mặt. Giới tư bản đỏ nhờ phù phép XHCN đã biến tài sản của quốc gia thành tư sản một cách thần tình, biển thủ công quỹ, buôn lậu hàng quốc cấm thế mà cứ hò hét diệt tham nhũng đến cùng.

“Theo tài liệu FYI ( Poliburos network) ngày 19/12/2000 thì các cán bộ và nhân viên cao cấp của nhà nước CS Hà nội hiện làm chủ những số tiền to lớn gửi tại các ngân hàng ngoại quốc cộng với những bất động sản tọa lạc trong nước.

– Lê Khả Phiêu : cựu tổng bí thư ĐCSVN và gia đình có 5 khách sạn (2 ở Hànội và 3 ở Saigon), tài sản và tiền mặt trị giá 1 tỉ 170 triệu Mỹ kim (US$ 1.170.000.000)

– Trần Đức Lương: Chủ tịch nước CHXHCNVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 137 triệu MK

– Phan Văn Khải: Thủ tướng chính phủ, gia đình có 6 khách sạn ở Saigon, tài sản 1 tỉ 200 triệu MK.

– Nguyễn Tấn Dũng: Đệ 1 Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 480 triệu MK

– Nguyễn Mạnh Cầm: Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 150 triệu MK

– Phạm Thế Duyệt: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, tài sản 1 tỉ 173 triệu MK

– Tướng Phạm Văn Trà : Bộ trưởng Quốc Phòng, tài sản gồm có 10 tấn vàng và tiền mặt 1 tỉ 360 triệu MK.

– Trương tấn Sang: Chủ tịch Ủy ban Kinh tế TƯ Đảng CSVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 124 triệu MK

Ngoài ra, còn một số cán bộ và công chức có 1 tỉ và trên 100 triệu MK trong danh sách liệt kê của bảng FYI này là hơn 20 người nữa.

Gần đây nhất, theo điện thư Câu lạc bộ dân chủ số 39 tháng 2/2005 trong mạng điểm Y kiến thì:

“Một nguồn tin tuyệt mật đã được tiết lộ mới đây từ một quan chức cao cấp Bộ Công an cho biết số tiền khổng lồ mà các quan chức cao cấp VN gửi tại ngân hàng Thụy sĩ. Đáng chú ý là:

Cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh hơn 2 tỉ USD cộng 7 tấn vàng;

Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười 2 tỉ USD;

Đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng Phạm văn Trà 2 tỉ USD cộng 3 tấn vàng;

Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu 500 triệu USD;

Đương kim Chủ tịch nước Trần Đức Lương 2 tỉ USD;

Đương kim Thủ tướng Phan văn Khải hơn 2 tỉ USD;

Đương kim Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn tấn Dũng hơn 1 tỉ USD;

Đương kim Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 1,3 tỉ USD;

Đương kim chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An hơn 1 tỉ USD;

Cựu phó ủy ban thể dục thể thao Quốc gia Lương quốc Đống 500 triệu USD;

Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm hơn 1 tỉ USD;

Cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại Mai văn Dậu hơn 1 tỉ USD.

Ngoài ra, nguồn tin cũng cho biết một danh sách dài các quan chức có số tiền gửi hàng trăm triệu USD…”

Tôi phải đưa ra 3 nguồn khác nhau để anh và các bạn trong nước thấy, báo chí trong nước nếu biết cũng không dám đăng vì toàn là “bí mật quốc gia”, internet thì không phải ai cũng có để coi, lại bị tường lửa ngăn chặn hay bị theo dõi khi dùng máy điện toán công cộng.

http://www.thienlybuutoa.org/Misc/NguoiLinhGia.htm

http://minht.free.fr/tham%20nhung%20001/mat%20tran/no%20le%20che%20do%20001.html

Quan chức cao cấp của chế độ CSVN gởi tiền ở ngoại quốc

Sunday, September 11, 2005

* CSVN ra luật chống rửa tiền nhưng …

GENEVA 11-9 (NV) – Một số cán bộ được tin cậy của đám quan chức cao cấp của chế độ Hà Nội đã được giao cho nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị các tài sản khổng lồ của họ có được nhờ tham nhũng hối lộ gửi tại các ngân hàng ngoại quốc. Một nhân vật (yêu cầu dấu tên) từng giao tiếp với một số người này ở một số ngân hàng Thụy Sĩ tiết lộ như vậy trong một cuộc tiếp xúc với báo Người Việt mới đây.

“Chưa kể tại ngân hàng các nước khác ở Âu Châu và Á Châu, riêng tại Thụy Sĩ, tôi biết có hai người ở các ngân hàng thành phố Lausane và hai người ở thành phố Geneva, làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản do xếp của họ gửi.” Nhân vật trên tiết lộ.

Lương bổng của đám quan chức cao cấp của đảng và nhà nước CSVN, theo sự mô tả của một viên chức ngoại giao Tây Phương thì “không đủ để họ sống 10 ngày”, nhưng họ có tiền phải gửi, hay nói đúng hơn, giấu đút, ở các ngân hàng ngoại quốc là một điều hiển nhiên bất bình thường. Cho tới nay, lương căn bản của cán bộ đảng viên CSVN chỉ có 290,000 (tương đương khoảng $18 đô la) rồi nhân theo chỉ số cao thấp tùy chức vụ, cấp bậc. Nhưng có lần Vũ Khoan, phó thủ tướng CSVN, khi thăm một xí nghiệp quốc doanh đã so sánh và thấy một viên chức nhà nước chức vụ rất cao như ông còn kém lương của một người thợ chuyên môn. Ðiều này cho thấy lương bổng cán bộ công chức CSVN, dù là quan chức cao cấp, cũng không là bao nhiêu và không đủ sống.

Theo lời nhân vật trên tiết lộ, mỗi một số viên chức cao cấp của chế độ đều sử dụng một số thuộc cấp tín cẩn vào công việc chuyển ra ngoại quốc số tài sản khổng lồ mà họ vơ vét được qua các “phi vụ” tham nhũng hối lộ.

Số tiền họ gửi mỗi lần khoảng bao nhiêu, cách bao lâu gửi một lần, các cán bộ có trách nhiệm chuyển đô la và vàng dưới nhiều hình thức khác nhau đến các ngân hàng ngoại quốc, không tiết lộ. Nhưng nếu đó không phải là các số tiền lớn bạc triệu đô la thì người ta không cần đến người chuyên trách “chuyển khoản” cũng như quản trị xuất nhập các số tiền này, ông nói.

“Họ luôn luôn có trách nhiệm đi đi về về”, ông tiết lộ tiếp. “Giữa không những Việt Nam và Châu Âu mà còn cả từ Việt Nam đến một số ngân hàng ở Á Châu cũng như cả Nga và Ðông Âu.”

Tại sao đám quan chức CSVN lại đem tiền gửi cả tại nước Nga là nước có hệ thống ngân hàng thuộc loại bấp bênh nhất trên thế giới?

“Họ gửi tiền cả ở ngân hàng Nga vì tin tưởng nguyên tắc khôn ngoan này: Không bao giờ bỏ tất cả các quả trứng vào chung một giỏ.” Ông giải thích rằng nếu một quả trứng chẳng may bị vỡ, có thể những quả trứng khác vỡ theo. Ðây là sự khôn ngoan chung của đám quan chức cao cấp của chế độ khi họ rải số tiền kiếm chác được ra nhiều nơi trên thế giới. Theo ông, có rất nhiều người khác nhau làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản của “xếp” ở ngoại quốc. Nhưng cũng có những người là vợ, con, hay thân quyến của đám cán bộ đảng viên tham nhũng đóng vai trò giấu đút tiền tham nhũng hối lộ khi họ đi ra ngoại quốc.

Tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn viết một bài có tính cách “mách bảo” cho cán bộ đảng viên tham nhũng trong nước cách thức gửi tiền ở hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ với tựa đề “Gửi tiền ở nhà băng Thụy Sĩ”. Bài báo này được báo điện tử VNExpress lấy lại và phổ biến ngày Thứ Bảy 10-9-2005 mở đầu với câu hỏi “Có thể mở tài khoản ẩn danh – anonymous account – ở ngân hàng Thụy Sĩ không?” Bài báo này giải thích khá tỉ mỉ về thế nào là tài khoản ẩn danh dưới hình thức “tài khoản mang số nào đó thay vì mang tên khách hàng.” Và “tài khoản số hạn chế sự hiểu biết về chủ nhân của nó…” Bài báo phục vụ loại độc giả nào, khách hàng ngân hàng nào ở trong nước, người ta có thể hình dung ra ngay khi mà lợi tức trung bình đầu người chỉ có khoảng $500 đô la một năm.

Ngày 8-6-2005, CSVN theo áp lực của Hoa Kỳ khi lôi kéo Hà Nội hợp tác đối phó với khủng bố, rửa tiền ma túy, buôn lậu trên thế giới, ra nghị định số 74/CP để chống rửa tiền. Nghị định này buộc “Các ngân hàng, các định chế tài chính phải báo cáo về các giao dịch trong một ngày của một cá nhân hay một tổ chức có tổng trị giá từ 200 triệu đồng (khoảng $12,400 đô la) trở lên.” Theo sự tường thuật trên báo Tuổi Trẻ ngày 9-6-2005. Tờ báo này kể tiếp rằng: “Tuy nhiên, các qui định có tác động lớn nhất là các ngân hàng buộc phải báo cáo về những khách hàng có lượng tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng từ 500 triệu đồng (khoảng $31,000 đô la) trở lên tại một ngân hàng. Lượng tiền 500 triệu đồng là tổng các khoản tiền gửi của cá nhân đó chứ không phải là một lần gửi tiết kiệm có trị giá 500 triệu đồng.”

Nhân vật trên kể cho hay, cách đây mấy năm, ông chánh văn phòng của Hội đồng Bộ Trưởng Chính phủ CSVN có lần đã thua bạc tại một casino ở Geneva “mấy trăm ngàn đô la trong một đêm”. Ðiều này, số tiền tham nhũng hối lộ mà đám quan chức CSVN giấu đút ở ngoại quốc phải “vô cùng lớn.”

Khóa họp Quốc hội CSVN hồi tháng Tư vừa qua, một dự thảo luật chống tham nhũng được bàn cãi nhưng rồi vẫn không có biểu quyết và được loan báo sẽ thảo luận trở lại vào khóa họp thứ hai của năm nay dự trù vào tháng 11 tới. Hàng năm, các khóa họp quốc hội Hà Nội đều có thảo luận chuyện chống tham nhũng và họ nhìn nhận tham nhũng đã trở thành “quốc nạn”.

Nguyễn đình Lộc, đại biểu quốc hội và nguyên là Bộ trưởng Tư Pháp CSVN nói với báo chí trong nước rằng tham nhũng chỉ bị lộ diện khi “nội bộ tham nhũng” tố cáo lẫn nhau. Trong một cuộc điều trần trước quốc hội, Phan văn Khải, thủ tướng Hà Nội, nhìn nhận tham nhũng đã “xà xẻo” khoảng 30% các dự án xây dựng, phát triển. Phần lớn các dự án này được tài trợ từ các khoản tín dụng ngoại quốc. Các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết viện trợ, tài trợ cho các dự án phát triển, xóa đói giảm nghèo cho Việt Nam năm 2005 là $3.4 tỉ đô la. (NT)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=32153&z=2

(Nguồn: http://danhsach.congsanvietnam.info/)

“Tinh thần” vô cảm

“Tinh thần” vô cảm

Nguyễn Xuân Nghĩa

Ngày nay không một quốc gia văn minh nào trên thế giới này vô cảm với sinh mạng và các quyền lợi hợp pháp của công dân nước mình.

Các nước Mỹ, Anh, Pháp, Nhật… cho đến ngày nay vẫn tiếp tục tìm kiếm tin tức và hài cốt những công dân của họ, dù đã từ thế chiến thứ hai, hoặc chiến tranh Việt Nam.

Bằng mọi cách họ phải giải cứu các con tin là công dân nước họ bị bọn khủng bố bắt cóc ở nước ngoài, có thể phải bỏ ra hàng chục triệu USD tiền chuộc.

Chính họ cũng đang kêu gọi chính phủ nước khác tha án tử hình cho công dân của mình, dù công dân này có nguồn gốc từ cộng đồng nhập cư trong đó có cộng đồng ngừời Việt, khi công dân này phạm trọng tội tại nước ngoài.

Chính phủ và người Việt Nam ta thì sao?

Không biết từ bao giờ chính phủ và người Việt Nam chúng ta đã làm quen với thói vô cảm.

Việc Chính phủ, giới truyền thông và người dân trong nước phản ứng lấy lệ khi tàu chiến Trung Quốc bắn chết và bắn bị thương 9 ngư dân Việt Nam người Thanh Hóa vào năm 2005, khi đang đánh cá trên vùng biển chúng ta có nói lên rằng chúng ta đang vô cảm với chính người dân của chúng ta hay không?

Và mới đây nhất, tối ngày 29/6/2008 hai công dân Trung Quốc đánh đập đến chết một kỹ sư Việt Nam, ngay trên đất thủ đô của Việt Nam mà không có sự can thiệp (hoặc có nhưng quá muộn) có nói lên điều này không?

Sự kiện đau lòng này bắt buộc chính phủ nếu có lương tâm, trách nhiệm với công dân cũng như tất cả các công dân còn lương tri phải suy nghĩ.

Đây không phải là một nhát dao hoặc viên đạn trúng vào huyệt sinh tử để nạn nhân tử vong cấp tính, đến nỗi những người chứng kiến không kịp can thiệp.

Mà đây là một vụ hành hung, theo mô tả của truyền thông, từ các hành vi đấm đá đến cầm chân nạn nhân dốc ngược, đập đầu xuống đất cho đến tử vong ít nhất cũng kéo dài trên dưới 30 phút.

Giữa một đường phố đông đúc ở thu đô Hà Nội và giữa nạn nhân là người Việt và kẻ giết người là người Trung Quốc ( đang trong giai đoạn nhạy cảm) vậy những người đi đường, chứng kiến và đều là người Việt Nam ở đâu, sao không can thiệp?

Chúng ta đã là một cộng đồng vô cảm, vô cảm đối với cả người ruột thịt của mình.

Rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả đã phê phán “tinh thần” vô cảm của người Việt Nam chúng ta.

Xuất phát điểm của người dân chúng ta không phải là vô cảm. Cha ông ta đã để lại những câu ca: ” Bầu ơi thương lấy bí cùng/ tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

Vậy; “tinh thần” vô cảm này xuất hiện từ bao giờ?.

“Tinh thần” vô cảm của cộng đồng chúng ta có quan hệ gì đến một xã hội yếu kém tạo ra do một chính quyền yếu kém hay không?

Ai trả lời câu hỏi này?

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa

http://ddcnd.org/main/index.php?option=com_content&task=view&id=411&Itemid=1

MUỐN GIỮ NƯỚC, TRƯỚC HẾT PHẢI DIỆT THÁI THÚ C.S.V.N

MUỐN GIỮ NƯỚC, TRƯỚC HẾT PHẢI DIỆT THÁI THÚ C.S.V.N

TRƯƠNG MINH HÒA

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh lúc chưa lộ mặt là tên Việt gian bán nước, hắn nhân danh chủ tịch của chính phủ liên hiệp tuyên bố tại quảng trường Ba Đình rằng:” không có gì quí hơn độc lập, tự do” khiến cho nhiều người yêu nước rất ư là” hồ hởi phấn khởi”, tin tưởng nên đi theo. Nhưng thực ra thì đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ lãnh đạo đã” thuần phục”, nguyện làm tay sai trung thành cho Cộng Triều Liên Sô từ lâu, chính bản thân hắn và một số đảng viên đã từng được đào tạo từ mẫu quốc, trở thành công cụ đắc lực cho đế quốc Đỏ; sau nầy có thêm Cộng Triều Trung Cộng, đưa dân tộc tròng một lúc 2 ách ngoại bang.

Cuộc chiến tranh suốt 9 năm phí phạm nhiều máu xương của người dân nước Việt với chiêu bài:” Đánh Tây giành độc lập” cũng là vở kịch nói có bài bản” yêu nước” do tên Hồ Chí Minh và bè lũ vô thần làm đạo diễn, dàn dựng; nhờ dân chúng thời buổi ấy chưa có trình độ ý thức cao, chưa biết rõ bộ mặt thật của Cộng Sản, nên dễ bị lừa mà đem thân, tài sản, trí tuệ góp phần làm nên vỡ” kịch nói” nầy được nhiều người ủng hộ. Tuy nhiên, trong thời buổi ấy, cũng có một số người nhận biết được tâm địa gian ác của Đảng Cộng Sản, nhưng vì lòng yêu nước cao độ mà tạm gác lại chuyện nội bộ, đứng chung trong hàng ngũ” đánh Tây”, với tâm nguyện là đánh đuổi ngoại xâm trước, rồi sau mới tính đến chuyện nội thù; ý nghĩ ấy đúng nhưng hảy còn ngây thơ, nên có ai ngờ đâu tập đoàn Hồ Chí Minh quá gian manh, ra tay thanh toán, thủ tiêu những thành phần yêu nước nầy ngay trong thời kỳ kháng chiến, rồi sau khi thành công, Hồ triệt hạ luôn những người còn sót lại còn kẹt lại ở miền Bắc để diệt trừ hậu hoạn, bài học nầy, người Việt hải ngoại nên cân nhắc để khỏi lọt vào cạm bẩy của bè lũ gian manh Cộng Sản lần nữa qua chiêu bài” hòa hợp hòa giải”, cùng nhau đoàn kết chống ngoại xâm, xây dựng đất nước….. Trong trận đánh quyết định tại lòng chảo Điện Biên Phủ, với tên đại tướng dỏm Võ Nguyên Giáp đóng vai chủ tướng, làm đúng theo bài bản” nướng quân” của phái bộ thầy tuồng do Vi Quốc Thanh của Trung Quốc cầm đầu, được Mao Trạch Đông đưa sang để chỉ đạo chiến thuật” biển người” vô cùng dã man, khiến hàng chục ngàn bội đội phơi xác ngập cả lòng chảo Điện Biên để đổi lấy chiến thắng với ngàn quân Pháp, một chiến thắng quá nhiều vành khăn tang cho dân Việt Nam, nhưng kẻ hưởng lợi chính là thiểu số đảng Cộng Sản Việt Nam. Kế tiếp là tại hội nghị Geneve, đạo diễn Chu Ân Lai của Trung Cộng, Molotov của Liên Sô, cấu kết với chủ nhà hát Tây là Mendès France, ra lịnh cho tên chạy hiệu hạng bét Phạm Văn Đồng ký văn bản chia đôi đất nước.

Sau năm 1954, dân miền Bắc đã biết thế nào là cảnh” quốc phá gia vong” qua cái gọi là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, với những cuộc tàn sát dã man từ nông thôn trong phong trào cải cải ruộng đất, thành thị đánh tư sản, tiêu diệt cả trí thức, nông dân, không chừa những thành phần từng có công giúp đảng gầy dựng sự nghiệp. Những cuộc tàn sát đẫm máu nầy đều do bàn tay ngoại bang Liên Sô, Trung Cộng chỉ đạo, rập khuôn theo tà kinh của Karl Marx; từ cổ chí kim, chưa có chế độ nào tàn ác như lũ Hồ Chí Minh. Bất hạnh thay, chế độ nầy kéo dài quá lâu trên quê hương Việt Nam và ngày nay vẫn còn gây thêm nhiều tác hại khôn lường.

Miền Bắc đã trở thành thuộc địa cùng một lúc với hai mẫu quốc Trung Cộng và Liên Sô từ dạo ấy, dù không ghi nhận trên văn bản; nhưng cái chế độ cai trị với chính quyền được gọi là Nhà Nước, đó chỉ là thứ quan lại do hai Cộng Triều Cộng Sản ủng hộ, dàn dựng, chỉ đạo, chi viện vũ khí để tàn sát dân Việt Nam trong cái gọi là” chống Mỹ cứu nước”, nhằm phục vụ quyền lợi bành trướng thế lực ở Đông Nam Á của Nga và Tàu mà thôi. Cái hệ thống đảng và nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là sản phẩm của ngoại bang nặn ra, rập khuôn theo đúng mô thức của hai mẫu quốc từ tổ chức đảng, bộ máy cai trị đến tên gọi quan chức: tổng bí thư, chủ tịch nhà nước, thủ tướng…. nên nhân sự được bổ nhiệm đều phải có sự quyết định bổ nhiệm của Nga, Tàu, nếu muốn trở thành quan chức quyền lực; đó là sự nô thuộc ngoại bang hoàn toàn từ đầu đến chân, chứ nào” độc lập, tự do” như Hồ Chí Minh lếu láo. Chế độ Thái Thú Cộng Sản Việt Nam là tổng hợp những thứ ác độc nhất của hai thời kỳ lịch sử đen tối, bị ngoại bang chiếm: Thời Bắc thuộc, quân Tàu bắt dân ta xuống biển mò ngọc trai, lên rừng săn ngà voi, sừng tê giác. Thời thực dân Pháp với” sưu cao thuế nặng, đóng cả thuế thân..”. Thì chế độ Cộng Sản:” mỗi người làm việc bằng hai, bằng ba-làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, ngày thường không xong, làm luôn ngày nghỉ-bán luôn sức người làm lao nô ở nhiều nơi trên thế giới-bán phụ nữ làm nô lệ tình dục..”. Chế độ Thực Dân Nội Địa hay là” Thái Thú Thời Đại” rõ nét như thế, chúng trân tráo gọi mẫu quốc bằng những từ ngữ nịnh hót như thời phong kiến” Ông Trung Quốc, Ông Liên Sô” kèm theo hai chữ” vĩ đại”, và bọn Thái Thú nầy còn bắt dân chúng phải gọi như thế, nếu ai có ý kiến” phạm thượng” thì bị tù đài dài hạn. Chế độ thực dân Pháp của chưa bắt dân phải xưng hô như thế, chỉ có đảng Cộng Sản mới biểu lộ sự tâng bốc ngoại bang một cách lố bịt mà thôi. Khắp miền Bắc, hình tượng quan thái thú Hồ Chí Minh và những” tổ tiên” Cộng Sản của hắn như Karl Marx, Lenin được đúc tượng, vẽ chân dung thờ hơn cả tổ tiên Việt Nam; Mao Trạch Đông trở thành ông vua phương Bắc và cũng là” thiên tử” của tập đoàn Hồ Chí Minh, nên nhiều thị trấn có treo những bích chương, bản hiệu:” Chủ tịch Mao Trạch Đông muôn năm”, rõ ràng là thờ ngoại tặc, ngoại nhân. Nhận vũ khí của hai quan thầy Liên Sô và Trung Cộng, tay sai Cộng Sản Việt Nam phát động cuộc chiến xâm lược miền Nam, gây biết bao cảnh chết chóc bởi lũ” giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu đồng bào” và bọn tay sai Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, gọi là bọn thổ phỉ Việt Cộng, khủng bố dân lành suốt hơn một thập niên, tội ác tay trời.

Chế độ Thái Thú Cộng Sản Việt Nam được sự hà hơi tiếp sức của hai mẫu quốc, mở cuộc tổng tấn công, chiếm được miền Nam ngày 30-4-1975 bằng chiến thắng thời cơ do nhiều lý do trong lẫn ngoài. kẻ chiến thắng như” chó ngáp phải ruồi” vội vả sát nhập miền Nam qua cái gọi là thống nhất đất nước năm 1976, cũng màu mè bầu ra quốc hội bù nhìn ( có thể gọi là QUỐC HÔI, vì đây là đống rác mụt nát của chế độ độc tài vẽ ra nhằm đánh lừa thế giới, là cơ cấu dân chủ giả hiệu, đống rác nặng mùi xú uế). Tuy nhiên, sự nô thuộc ngoại bang vẫn không thay đổi, dù sông có thể cạn, núi có thể mòn, nối tiếp truyền thống làm Thái Thú của Hồ Chí Minh để lại. Cái nước mang tên Cộng Hòa Xã Hội chủ Nghĩa Việt Nam ra đời, nhưng được hiểu ngầm là” thuộc địa của Liên Sô kéo dài”, là chư hầu trung thành tuyệt đối, có nhiệm vụ làm theo mệnh lệnh mẫu quốc; do đó bộ máy đảng và nhà nước đều thuộc thành phần thân Nga, họ vâng lịnh Nga xâm lăng Campuchea từ 1978 và chiếm đống 10 năm, trong khi quan thầy chiếm A Phú Hãn rồi sa lầy. Đương nhiên là Cộng Triều Trung Quốc không hài lòng, gây hấn, mở hai mặt trận: miền Bắc ở biên giới Việt –Trung và miền Nam ở biên giới Tây Nam do đàn em Khmer Đỏ thực hiện; cuộc chiến biên giới 1979 mà Trung Cộng dạy cho Việt Nam bài học, không có ý nghĩa chống xâm lăng, bảo vệ tổ quốc; mà đây không ngoài chuyện đem máu xương của bội độ Việt Nam chỉ để phục vụ quyền lợi ngoại bang Liên Sô.

Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được ghép thêm ba tiêu đề: độc lập-tự do-hạnh phúc, lại một màng đánh lừa nhân dân Việt Nam và thế giới một cách trơ trẽn, có người cho đó là tiểu xảo của bọn” thiếu giáo dục” do bọn Thái Thú vừa ngu vừa dốt sáng chế ra. Khi có chiến tranh, người ta kêu gọi hòa bình, nước Việt Nam nghèo, đói thì đảng ra tiêu đề” xóa đói giảm nghèo”; các nước như Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Nhật, Úc….tên nước đơn giản, không cần phải rườm rà như thế, vì họ đã có độc lập, tự do và nhân dân sống hạnh phúc, khỏi cần nêu lên trong danh xưng của một quốc gia…Lý do là nước Việt Nam không có ba thứ đó nên đảng đề ra nhằm đánh lừa dân mà thôi; thực vậy, nước Việt Nam nào có độc lập, luôn lệ thuộc Liên Sô và sau nầy Trung Cộng; trong cơ cấu chính quyền, bất cứ những cuộc thay đổi chủ nhân nào cũng làm cho đảng Cộng Sản phải thay đổi nhân sự để cho hạp tánh, quyền lợi của chủ mới là chuyện không thể tránh khỏi. Thời Liên Sô ảnh hưởng thì những phe cánh thân Nga cầm quyền, nắm hết các chức vụ quan trọng, thanh toán cánh thân Trung Cộng từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc, đến nổi phó chủ tịch Quốc Hội Hoàng Văn Hoan, nhân vật đại công thần của đảng Cộng Sản thuộc thành phần tiền bối, từng sát cánh với Hồ Chí Minh từ lúc mới hoạt động với hai bàn tay trắng đến khi thành công, trong quyển sách tựa là Đầu Nguồn, do nhà xuất bản Sự Thật ở Hà Nội phát hành, thì Hoan chỉ đứng sau Hồ thôi, thế mà hắn đành phải đào tỵ sang Trung Cộng vào năm 1978, nhân chuyến công du ở Parkistan. Trong thời kỳ Hoa Kỳ dội bom miền Bắc để trừng trị tội gây chiến, khủng bố dân miền Nam, trường đào tạo sĩ quan miền Bắc bị tê liệt hoàn toàn, nên đảng Cộng Sản gởi một số thanh niên sang Quảng Tây ( Trung Quốc) nhờ để huấn luyện quân sự dùm, nhằm cung ứng cho chiến trường” sanh Bác tử Nam” đang đòi hỏi cấp bách, vì số cán bộ chỉ huy hao hụt quá nhiều; Mao Trạch Đông là bậc” sư phụ” của Hồ Chí Minh, nên biết rành thế nào là” mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”, các học viên quân sự sĩ quan nầy được Mao chiều chuộng, mua chuộc, cố tạo mối quan hệ mật thiết để nhờ cậy trong tương lai. Mỗi tuần, cán bộ lãnh đạo địa phương tài trợ cho một hoặc vài học viên, họ được hướng dẫn đi chơi, ăn uống, cho tiền chi tiêu, về nước con tặng quà cáp…thế nên sau khi về nước, vẫn có cảm tình với Trung Cộng, nên thường liên lạc nhau bằng thư từ. Vụ chiến tranh biên giới Việt-Trung, nhiều sĩ quan gốc Quảng Tây bị thanh trừng vì nghi ngại, một số bị hạ tầng công tác, một số bị bắt đi tù cải tạo, một số trại có những sĩ quan nầy ở chung với tù cải tạo thuộc quân nhân cán chính miền Nam.

Sau khi mẫu quốc Liên Sô sụp đổ, những xung đột biên giới dịu dần và cuối cùng tập đoàn Thái Thú Cộng Sản Việt Nam bị buộc phải thần phục Cộng Triều Bắc Kinh để tồn tại, tiếp tục làm tay sai, ký kết những hiệp ước dâng bán dần những phần đất nước ở biên giới, hải đảo, vùng biển, nhằm bảo đảm quyền lực cai trị và trái lại tập đoàn đảng Cộng Sản Việt Nam cũng phải có nghĩa vụ là:” thực thi, bảo đảm những khế ước bán nước với Trung Cộng” nếu dân chúng phản ứng. Từ dạo nối lại tình hữu nghị Việt-Trung, thì ảnh hưởng của Trung Cộng càng sâu rộng, dễ nhìn thấy nhất là trong các kỳ đại hội đảng nhằm bầu bán nhân sự cầm quyền trong bộ máy đảng và nhà nước, đều có các quan chức lớn Trung Ương đảng Cộng Sản Trung Quốc phái sang, chẳng khác nào ” quan khâm sai đại thần Trung Cộng” từ mẫu quốc đề cử sang đất chư hầu để dàn dựng nhân sự; cho nên những tên Thái Thú, quan to nào muốn cầm quyền, đều phải được Bắc Kinh” nhất trí” hoặc hậu thuẫn. Chính vì thế mà càng ngày nước Việt Nam càng lệ thuộc Bắc Triều, đương nhiên là những chính sách kinh tế, ngoại giao…. đều phải có sự cố vấn, chỉ đạo. Từ lâu, tập đoàn Thái Thú Cộng Sản Việt Nam đã dành nhiều dễ giải cho mẫu quốc Trung Cộng, đặc biệt là mở cửa khẩu cho qua lại dễ dàng; dân Tàu đông, có lợi rất nhiều qua việc xâm nhập ào ạt, buôn người, hàng hóa, khuynh đảo chính quyền từ trung ương đến địa phương; họ tìm cách di dân theo luật hôn phối, là hình thức đồng hóa khéo léo thời đại, đúng theo luật pháp quốc tế và Việt Nam đang áp dụng. Mặt khác chính sách một con của nhà nước Trung Cộng gây ra nạn gái thiếu, trai thừa, nên nhiều cô gái Việt Nam bị bọn buôn người bắt đem bán cho các đại gia, đàn ông độc thân, hay tệ hơn là sa vào các động mãi dâm ở bên kia biên giới, thật là đau lòng cho hậu duệ bà Trưng bà Triệu, là mối sĩ nhục quốc thể. Theo luật pháp từng quốc gia trong tinh thần độc lập, tôn trọng chủ quyền lẫn nhau, thì bất cứ công dân nước nào phạm pháp tại nước ngoài, bị chế tài bởi luật pháp của chính quyền tại nơi ấy; dù Hoa Kỳ, các nướv Âu Châu, Úc…có luật bảo vệ kiều dân khi xuất ngoại, nhưng cũng đành bó tay để cho các nước xử công dân của họ khi phạm pháp, họ chỉ dùng quyền ngoại giao để giúp đỡ mà thôi. Ở Úc, chính phủ không thể can thiệp chính quyền Singapore để giảm án từ treo cổ sang chung thân cho tử tội Úc gốc Việt là Nguyễn Tường Vân với tội danh vận chuyển bạch phiến, là một thí dụ điển hình.

Tuy nhiên tập đoàn Thái Thú Cộng Sản Việt Nam không có quyền xét xử những công dân của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa nếu phạm pháp tại Việt Nam, họ bị đưa về mẫu quốc để xử bởi luật pháp nhà cầm quyền Trung Nam Hải; đây là điều nhục nhả, mất chủ quyền, rõ ràng nhất. Hàng hóa Trung Cộng, người, kể cả tiền giả ào ạt vào Việt Nam, tự nhiên luân lưu như trên bất cứ lãnh thổ nào của Trung Hoa, trên vấn đề hành chánh, công pháp quốc tế thì Việt Nam vẫn là một quốc gia; nhưng trên thực tế, vùng đất nầy được hiểu ngầm là MỘT HUYỆN CỦA TRUNG CỘNG từ lâu, cái hệ thống đảng và nhà nước cai trị chỉ là một tập đoàn Thái Thú kiểu mới của Trung Quốc, mà nhân dân không nhận ra. Vì bị đàn áp, kiểm soát quá gắt gao mà tập đoàn thái thú vẫn tồn tại, dân chúng tưởng đâu” đảng Cộng Sản hèn nhát trong vấn đề ngoại bang với Bắc Kinh”, nhưng sự thực là nước Việt đã trở thành lãnh thổ” bất thành văn” của Trung Quốc, giống như người Trung Hoa tự do ra vào, làm ăn, khuynh đảo, kiểm soát chính quyền ở Tây Tạng; chỉ khác là ở Tây Tạng có cảnh sát Trung Cộng, còn Việt Nam là công an tay sai, cũng là một loại như nhau thôi. Những lấn lướt vùng biên giới qua việc ký kết hiệp ước cắm lại cộc mốc, ngư dân bị bắn chết, bị bắt làm con tin đòi chuộc mạng…. được tập đoàn Thái Thú phớt lờ, chỉ phản ứng lấy lệ nhằm xoa dịu lòng dân. Cho nên, những ký kết giữa mẫu quốc và tập đoàn Thái Thú về chủ quyền, hải đảo, vùng biển… đều giữ kín, họ còn coi đó là” bí mật quốc phòng”, ai tò mò, lên tiếng là bị chụp mũ phản động, tay sai đế quốc…nên lãnh thổ, lãnh hải thu hẹp dần mà dân không biết chính xác hay không biết gì, do truyền thông bị bưng bít; nếu để cho tập đoàn Thái thú nầy thương lượng song phương trong tình hữu nghị Việt- Trung nhiều lần nữa, thì đất nước sẽ không còn trong một ngày không xa, nếu dân Việt Nam không sớm hành động cứu lấy non sông như tiền nhân đã kiên cường đánh đuổi giặc Tàu suốt ngàn năm lịch sử.

Việc Trung Cộng thành lập huyện Tam Sa, bao gồm cả lãnh hải, quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa mới đây là chuyện mà Việt Cộng thừa hiểu, là do ý muốn của triều đình Bắc Kinh, chính quyền Thái Thú chỉ phản ứng chiếu lệ, vì họ đã ký bán non sông nên phải có nghĩa vụ bảo vệ” hợp đồng” với khách hàng; sự việc nầy được hiểu là sự công bố từng phần về mặt pháp lý về chủ quyền lãnh thổ kéo dài, để cuối cùng khi tình hình thuận lợi, Trung Cộng có thể sẽ chính thức tuyên bố thành lập huyện Giao Chỉ gì đó, bao gồm từ mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau, cũng với luận điệu” không thể tranh cải, do điều kiện lịch sử, địa lý… được những học giả tăm tiếng, có bằng tiến sĩ, giáo sư đại học… thuộc hạng lưu manh khoa bảng, trí thức bất lương, được mướn để soạn thảo ra; nên khi họ hoàn thành công trình nghiên cứu, công bố thì mới có giá trị. Trung Cộng ngày nay quỷ quái là nhờ học hỏi luật và kẻ hở của công pháp quốc tế, người của họ du học rất đông từ lâu, thu thập những tinh hoa khoa học kỷ thuật, luật pháp, tình hình xã hội, quản trị kinh tế…nên họ thừa biết mặt mạnh cũng như mặt yếu của các nước Âu Mỹ, nhất là tư cách hội viên thường trực trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc ( cũng do Hoa Kỳ ủng hộ đưa vào, đá đồng minh Đài Loan ra khỏi chiếc ghế nầy). Sau thời gian” thuần hóa” dân Việt Nam bằng kinh tế, văn hóa… thu phục tập đoàn đảng và nhà nước bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, có thể Trung Cộng sẽ cố vấn, chỉ đạo cho tập đoàn Thái Thú C.S.V.N bày ra cuộc” trưng câu dân ý” để lấy ý dân là ý trời, với chủ đề là đồng ý hay không sát nhập vào Trung Cộng. Đây là nguyên tắc thực thi dân chủ mà Liên Hiệp Quốc từng áp dụng tại Đông Timore, trong cuộc trưng cầu dân ý nầy, đảng Cộng Sản dùng công cụ đắc lực là công an, quân đội hù dọa, bắt ép dân đi bầu, đương nhiên là kết quả như họ mong muốn, rồi quốc hội bù nhìn phê chuẩn theo đúng luật định. Thế là nước Việt Nam lọt vào tay Trung Cộng một cách dễ dàng, chỉ bằng những thủ đoạn” lợi dụng sinh hoạt dân chủ” của quốc tế, lúc đó có muốn lấy lại cũng rất khó, muốn đưa ra Liên Hiệp Quốc cũng không được, vì không có ai đại diện ở cơ chế nầy, nên không có tư cách pháp lý đưa ra; chỉ có tập đoàn Thái Thú Cộng Sản Việt Nam hả hê nhận được nhiều tiền, tiếp tục bỏ vào các trương mục ngoại quốc, đầu tư, mua nhiều bất động sản, kinh doanh… con cháu xuất ngoại, bỏ mặc cho dân trong nước sống với Trung Cộng, chúng có thể sống phủ phê hàng thế kỷ mà vẫn chưa hết tiền. Trung Cộng rất ma lanh, xảo trá, ban đầu họ công nhận” một quốc gia hai chế độ” như ở Hồng Kông, tức là Việt Nam có cờ riêng, hệ thống nhà nước như cũ và dần dần di dân, sau vài thập niên thì nước Việt bị thôn tín một cách tinh vi, bị đồng hóa dễ dàng; biết bao công lao của tiền nhân dựng và giữ nước tan tành như mây khói chỉ vì một nhóm người” mãi quốc cầu vinh”, bắt đầu do tên Việt Gian Hồ Chí Minh tiên phong. Trung Cộng chiếm nước không tốn một mũi tên, viên đạn, giọt máu…. đây là nguy cơ mà người Việt Nam cần cảnh giác, nếu không thì coi như quá trễ. Mỗi lần bị mất đất, hải đảo, vùng biển nhiều tài nguyên, dân chúng phẩn uất đứng lên biểu tình, thì tập đoàn Thái Thú Cộng Sản Việt Nam tìm cách ngăn chận bằng nhiều biện pháp, nhằm triệt tiêu những người phản đối, đi ngược lại quyền lợi của mẫu quốc và cũng để” đảm bảo chất lượng” giao kèo với Trung Cộng. Để vuốt ve và trấn an, tập đoàn Thái Thú Cộng Sản Việt Nam cho đây là những cuộc biểu tình không được phép của nhà nước. Trung Cộng không hài lòng vì tình hình dân chúng có chiều hướng chống lại triều đình Bắc Kinh, cũng giống như các quan Thái Thú và các triều đình phong kiến Trung Hoa ngày xưa không bao giờ muốn dân chúng thuộc địa đứng lên giành lấy chủ quyền. Cho nên ngay sau cuộc biểu tình đầu tiên, họ ra công hàm cảnh cáo bọn tay sai Thái Thú, nếu để tình hình nầy xấu đi thì quan hệ ngoại giao bị ảnh hưởng; tuy đơn giản, nhưng bọn Thái Thú cũng thừa thông minh để hiểu là: nếu làm phật lòng mẫu quốc thì những chiếc ghế lãnh đạo đảng và nhà nước cũng mất theo.

Trong cuộc biểu tình lần thứ hai, ngày 16-12-2007 tại Saigon, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân thành Hồ là Nguyễn Thành Tài, cũng là quan chức thừa hành của tập đoàn Thái Thú Cộng Sản Việt Nam do Trung Cộng làm chủ đã cố tình làm giảm nhẹ mức độ căm hờn của nhân dân, được giới sinh viên tiên phong phản đối, hắn đành công nhận đây là cuộc Biểu Tình, chớ không như từ ngữ” phản đối tập thể” của đảng, nhằm ngăn chận những cuộc biểu tình phản ứng của người dân. Một Sinh viên quan ngại hỏi:” Nếu nước đã mất…còn con đường để đi hay không?”. Thật ra miền Bắc đã trở thành thuộc địa của Nga, Tàu sau 1954 và toàn thể nước Việt Nam đã trở thành lãnh thổ, hay thuộc địa bất thành văn của ngoại bang từ sau ngày 30-4-1975, hết mẫu quốc Liên Sô, nay là Trung Cộng. Sự phản ứng của người Việt về vụ mất đảo, đất, vùng biển là coi như đã trễ, nhưng vẫn còn thời gian để giữ lấy những phần còn lại nếu không đi sai mục tiêu đấu tranh, phải biết kẻ thù trực tiếp là ai?. Trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của tiền nhân nước Việt từ thời lập quốc đến nay, từng đốn ngã tất cả các triều đình phong kiến Trung Hoa. Tiền nhân đã từng đánh đuổi Thái Thú Tô Định, Trương Phụ, Tôn Sĩ Nghị….là người thay mặt thiên triều Trung Hoa sang xâm lăng và đặt nền móng đô hộ; do đó công cuộc chiến đấu bảo toàn lãnh thổ ngày nay cũng giống như ngày xưa: trước hết phải đánh bọn Thái Thú ( quan lại của Trung Cộng), chính là tập đoàn đảng Cộng Sản Việt Nam, chớ chúng ta không thể đánh sập Cộng triều ở Trung Nam Hải. Diệt bọn Thái Thú Cộng Sản Việt Nam là mục tiêu hàng đầu, để giữ nước khỏi rơi vào tay Trung Cộng. Thời quân Mãn Thanh do Tôn Sĩ Nghị đem quân xâm lăng nước Việt Nam, vua Quang Trung đánh đuổi Tôn Sĩ Nghị trước để bảo toàn lãnh thổ, rồi sau đó mới thương thuyết với vua Càn Long bên Trung Hoa; mục tiêu rõ ràng như thế. Muốn giữ nước, trước hết phải triệt hạ tập đoàn Thái Thú Cộng Sản Việt Nam, rồi sau đó mới tính chuyện đòi lại những gì đã bị mất vào tay Trung Cộng từ thời Hồ Chí Minh cho đến nay. Tình trạng của đất nước Việt Nam ngày nay chẳng khác nào thời” NÔ THUỘC PHƯƠNG BẮC” ngày xưa, nên toàn dân rất cần một Diên Hồng lần thứ hai để quét sạch bóng quân xâm lược, kẻ thù trước mắt là tập đoàn Thái Thú Thời Đại, tức là đảng C.S.V.N.

Ở hải ngoại cũng thế, mục tiêu trước mắt là bọn” gián điệp nằm vùng, tay sai, đón gió trở cờ”, khi bọn nầy bị vô hiệu hóa thì bàn tay lông lá của đảng Cộng Sản Việt Nam chắc chắn sẽ không thò ra những vùng đất của người tỵ nạn sinh sống. Diệt đầu cầu giao liên, cơ sở quan hệ là biện pháp thiết thực nhất nhằm tạo sự ổn cố trong các cộng đồng./

http://www.hon-viet.co.uk/TruongMinhHoa_MuonGiuNuoc_PhaiDietThaiThuCSVN.htm